Thánh địa của tư bản

Tháng Mười Hai 4, 2011

SGTT.VN – Sau một cuộc họp dài suốt ngày, tôi cáo lỗi với đối tác, đi ăn một mình và thả bộ trên đường phố. Tôi chợt nhận ra là mình đang đứng giữa lòng Las Vegas, buổi tối thứ bảy, nhộn nhịp đám đông, xe cộ và muôn ánh đèn màu rực rỡ. Người ta nói nhiều đến sinh thái năng động của các thành phố Á châu mới nổi, nhưng tôi chắc chắn rằng không đâu có thể sánh bằng Vegas. Đủ mọi sắc dân Âu Á Phi, đủ mọi mầu da đen trắng vàng, đủ mọi loại tuổi, mọi loại quần áo phong cách và mọi loại thể hình mập ốm cao lùn. Nhưng họ đều chia sẻ một mẫu số chung: ngất ngây với mùi tiền, mùi tham và mùi vội vã.

 Vở Alice ở xứ sở thần tiên ở nhà hát Le Rêve, tại khu nghỉ dưỡng – sòng bạc Wynn Las Vegas. Ảnh: TL

 Tôn giáo nào cũng có những vị thánh và những thánh địa để giáo dân hướng tâm tư và làm những cuộc hành hương tỏ lòng tôn kính. Người Thiên chúa giáo tìm về Jerusalem đi lại con đường Thập tự giá của Chúa Jesus, người Hồi giáo có Mecca và giáo chủ Mohammed, người Phật giáo quỳ dưới cây bồ đề của Phật Thích Ca ở Patna. Tôn giáo tư bản có đôla và Las Vegas. Người ta nói nhiều đến New York, nhưng đây chỉ là chỗ để kiếm tiền, muốn hành hương để tìm biểu tượng cho sức mạnh của đồng tiền và những thú vui từ đôla, ta phải đến Las Vegas.

Đọc tiếp »


70% dân Trung Quốc không tin hàng nội địa

Tháng Một 4, 2011

Gần 70% dân Trung Quốc cảm thấy không yên tâm về an toàn thực phẩm, kết quả một cuộc khảo sát toàn quốc ở nước này cho thấy.

Tạp chí Insight China và phòng khảo truyền thông Thanh Hoa tiến hành cuộc thăm dò và công bố kết quả hồi tuần trước trong bối cảnh chính phủ nước này đang cố gắng khôi phục lòng tin của công chúng sau hàng loạt bê bối về an toàn thực phẩm.

Hơn 1/2 số người được hỏi cho biết, các biện pháp quản lý và giám sát của chính phủ cần được cải thiện để bảo vệ người dân khỏi thực phẩm không an toàn, kết quả khảo sát cho thấy.

Trong số 24 loại thực phẩm, gồm cả rau, hoa quả, hải sản, dầu ăn và các sản phẩm trên cơ sở nước, người tiêu dùng Trung Quốc sợ nhất thực phẩm chiên.

“Các sản phẩm đó đặc biệt được trẻ em ưa chuộng và tôi không dám chắc về các tác động sức khỏe”, Wang Linhong, mẹ của bé trai 4 tuổi ở Bắc Kinh cho biết.

Người tiêu dùng cho biết, họ cũng lo ngại về rau ngâm, thịt tươi và sản phẩm thịt, đồ hộp, đồ ăn liền và các sản phẩm sữa.

Kết quả khảo sát cho thấy, các sản phẩm thịt bị nhiễm bẩn, dư lượng thuốc trừ sâu quá mức và lạm dụng phụ gia thực phẩm đang là những lo ngại hàng đầu của người tiêu dùng. Năm 2008, sữa bột trẻ em nhiễm melamine làm 6 em thiệt mạng, hơn 300.000 em bị ốm.

Hoài Linh (Theo ChinaDaily)


Đằng sau cái danh hiệu “nước lớn ôtô” của Trung Quốc: 70% lợi nhuận vào túi nước ngoài

Tháng Mười Hai 26, 2010

SGTT.VN – Lọt vào tốp các nước dẫn đầu về sản xuất xe hơi song công nghiệp xe hơi Trung Quốc vẫn bị lệ thuộc vào nước ngoài. Chiếm ưu thế về kỹ thuật sản xuất tại Trung Quốc, các hãng nước ngoài đạt được lợi nhuận cao ở thị trường hơn một tỉ dân này.

Có đủ các thương hiệu lớn của Nhật, Mỹ tham dự triển lãm xe hơi tại Bắc Kinh 2010. Ảnh: TL

Trong lợi nhuận trước thuế mà hãng ôtô Volkswagen, Đức thu đuợc vào quý 1/2010, thị trường Trung Quốc cống hiến gần một nửa. Trong 3,18 tỉ USD lợi nhuận ròng của hãng xe hơi Honda, Nhật Bản thu được năm 2009, 89% đến từ thị trường Trung Quốc. Thị trường xe hơi Trung Quốc đã nghiễm nhiên trở thành mảnh đất màu mỡ của ngành công nghiệp xe hơi toàn thế giới. Đến mức, nếu có công ty xuyên quốc gia xe hơi nào đó không coi thị truờng xe hơi Trung Quốc là vị trí quan trọng hàng đầu thì điều này sẽ trở thành tin tức hiếm thấy.

Sản lượng xe hơi tiêu thụ từng buớc tăng đều hàng năm đã đẩy Trung Quốc lọt vào tốp các nước chế tạo xe hơi hàng đầu. Năm ngoái khi số đông các nhà máy sản xuất xe hơi trên thế giới trong cảnh thị trường ế ẩm dựa vào thị trường 13,65 triệu xe hơi Trung Quốc để cầm cự. Các vị đứng đầu các hãng xe hơi lớn như Toyota, Volkswagen, General motor, Nissan, Honda… đã lũ lượt tới thăm Trung Quốc. Cũng trong năm đó, số lượng xe hơi của các nhà máy thuộc các hãng đa quốc gia tiêu thụ tại Trung Quốc đã tăng 20%. Và với sự tăng mạnh về số lượng tiêu thụ, thị trường Trung Quốc đã trở thành nguồn thu lợi nhuận chủ yếu của các công ty xe hơi xuyên quốc gia.

Đọc tiếp »


Chuẩn GPP, không giám sát thì chỉ là hình thức

Tháng Mười Một 6, 2010

SGTT.VN – Theo lộ trình bộ Y tế đề ra, từ ngày 1.1.2011, các nhà thuốc trên cả nước nếu không đạt tiêu chuẩn “thực hành tốt nhà thuốc”(GPP) sẽ phải đóng cửa. Tại thời điểm này, chỉ có khoảng 11% nhà thuốc trong tổng số 11.629 cơ sở bán lẻ thuốc trên cả nước đạt tiêu chuẩn GPP. Các nhà thuốc đang chạy nước rút để đối phó với quy định này.

Từ ngày 1.1.2011, nếu không đạt GPP, các nhà thuốc sẽ phải đóng cửa. Liệu quy định này có được thực thi nghiêm túc? Ảnh: Lệ Hà

GPP – có cũng như không

Sát cổng bộ Y tế tại Hà Nội, một nhà thuốc lớn treo biển “đạt GPP”. Gian hàng bày kín các loại thuốc. Hai nhân viên bán hàng mặc áo blouse trắng. Quan sát trong khoảng 15 phút, chúng tôi thấy có năm khách hàng vào mua từ thuốc thông thường như nhỏ mũi, viên ngậm viêm họng đến thuốc kháng sinh nặng. Tất cả đều không cần đơn của bác sĩ. Tôi hỏi mua lọ thuốc Zinnat cho trẻ ba tuổi – một loại kháng sinh có chỉ định dùng khi nhiễm khuẩn đường hô hấp – người bán hàng đưa thuốc ra, không buồn hỏi đến toa thuốc chỉ định của bác sĩ. Cửa hàng thuốc Đ.C trên đường Nghĩa Tân (quận Cầu Giấy, Hà Nội) cũng trưng biển “nhà thuốc đạt GPP” nhưng cách bán thuốc cũng vẫn là ai mua là bán, không hỏi đến toa thuốc!

Đọc tiếp »


Quy mô thị trường các sản phẩm sữa Việt Nam 2000-2014

Tháng Mười 28, 2010

Thông tin về quy mô thị trường (market size) các sản phẩm sữa tại Việt Nam từ hãng Datamonitor nổi tiếng trên thế giới về nghiên cứu thị trường.

Bạn có thể download từ đây: Vietnam Dairy Milk Market 2000-2014


Google trốn thuế siêu đẳng như thế nào?

Tháng Mười 24, 2010

(Dân trí) – “Hai người Ai Len” và “Sandwich Hà Lan” giúp Google cắt giảm được 3,1 tỷ USD tiền thuế trong vòng 3 năm qua. Cơ quan thuế Mỹ chỉ còn biết “ngậm bồ hòn làm ngọt”.

Quá trình bao gồm hai chiến lược được giới luật sư gọi là “Hai người Ai Len” và “Sandwich Hà Lan” này đã giúp giảm tỷ lệ thuế đối với thu nhập từ nước ngoài của Google xuống 2,4%, thấp nhất trong top 5 công ty công nghệ hàng đầu nước Mỹ tính theo vốn hóa thị trường.

Chuyển Giá

Chiến thuật của Google dựa trên việc “chuyển giá”, tức những giao dịch trên giấy giữa các công ty con để phân bổ thu nhập tới các thiên đường thuế trong khi chi phí lại rơi vào các nước có thuế suất cao hơn.

Hàng năm chiến thuật này khiến chính phủ Mỹ mất 60 tỷ USD tiền thuế.

Dân biểu Cộng hòa Dave Camp và các chính trị gia khác cho rằng thuế suất thuế TNDN 35% tại Mỹ quá cao so với các nước khác. Việc chuyển thu nhập đã giúp giảm thuế suất Google thực chịu năm ngoái xuống còn 22,2%.

Đọc tiếp »


Người Việt khôn hay dại?

Tháng Mười 6, 2010

LTS: Sau khi đăng tải bài viết “Người Việt có thông minh không?”, Tuần Việt Nam nhận được nhiều ý kiến thảo luận, tranh cãi xung quanh chủ đề này. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam sẽ lần lượt giới thiệu các góc nhìn khác nhau. Mời bạn đọc cùng thảo luận thêm.

Một cây đàn không làm nên dàn nhạc?

Người Việt có danh từ “Lương – tri”, có nghĩa là: Con người ta chỉ có lương tâm – khi đi kèm tri thức. Từ “lương tri”, theo gốc Latin là Conscience – cũng có nghĩa là ý thức. Nó được các triết gia từ cổ đại đến hiện đại bàn rốt ráo rằng, người ta chỉ có thể có lương tâm khi có ý thức và hiểu biết để phân biệt được cái hay – cái dở, cái tốt – cái xấu, cái phải – cái trái. Trình độ tri thức, khôn hay dại, vì thế vô cùng quan trọng, bởi vì nó chính là trình độ của lương tâm, cái sẽ xây nên tầm vóc của xã hội.

Người Việt có thông minh không, hay chỉ khôn lỏi thôi? Mới đây, chúng ta có Giáo sư Ngô Bảo Châu đoạt giải Field thế giới về toán học, vậy thì ai dám nói là người Việt không thông minh?

Thế nhưng, vài chuyên gia đã chứng minh về cái gọi là “tâm lý đại biểu”. Nghĩa là, thay vì bàn về sự thành – bại căn cứ vào bản thân mình, họ thường viện dẫn bằng tâm lý đại biểu, để nâng mình lên, rằng ở có người này người khác, ở phố kia, làng nọ, hay nước khác chẳng kém ai.

Xét về sự khôn – dại của người Việt ta cũng tương tự. Nếu cả nước ta lấy GS Ngô Bảo Châu ra để tự hào chính là dùng “tâm lý đại biểu” để ngụy biện cho mình. Lấy cái cố gắng, cái thông minh, cái thành công cao nhất của một con người bao phủ cho sự thiếu cố gắng, thiếu tư duy, và thiếu thành công cho bản thân mình, hay là cả dân tộc.

Đọc tiếp »


Sự thông minh và sự “chậm lớn” của người Việt

Tháng Tám 21, 2010

Cây cầu tre – tư duy và cơ chế quản lý xã hội tiểu nông bắc giữa hố sâu của 2 bờ “tụt hậu” hay “phát triển” cần được thay đổi, được đổi mới bằng cây cầu hiện đại- tư duy và quản lý xã hội gắn kết dân chủ, công bằng, văn minh và minh bạch.

Sau những giờ phút xúc động đến “nghẹn con tim”, khi chứng kiến GS Ngô Bảo Châu được vinh danh trên trường quốc tế với Giải thưởng Fields danh giá, và được trong nước vinh danh thành “hiện tượng Ngô Bảo Châu”, cũng như trước đây là “hiện tượng” Đặng Thái Sơn- nghệ sĩ biểu diễn piano, giải nhất cuộc thi quốc tế về Frédéric Chopin ở Warszawa (Ba Lan), thì tâm lý người Việt trong chúng ta bỗng chùng xuống, im lặng khi nghĩ về đất nước mình. Nghĩ về những tài năng Việt xa xứ. Đã đành, sự vinh danh vẻ vang GS Ngô Bảo Châu, một người Việt tài năng, thì dân tộc Việt sẽ là dân tộc được thế giới nhắc nhớ đầu tiên.

Nhưng sẽ có một câu hỏi khác, một sự nhắc nhớ khác, khiến chúng ta hổ thẹn. Tại sao người Việt ra thế giới, đi làm thuê cho xứ người, lại thường thành danh, thành đạt? Và tại sao, người Việt chúng ta thông minh thế, mang tiếng tài nguyên rừng vàng biển bạc thế, phải cho nước ngoài khai phá…mà đất nước vẫn luẩn quẩn với cái nghèo, chậm phát triển, nay lại còn tụt hậu so với khu vực?

Một chuyên gia người Việt của tổ chức Ngân hàng Thế giới từng đặt câu hỏi: “Ta cứ hay vin vào chiến tranh. Thế nhưng chiến tranh đã lùi xa sau 35 năm, tại sao đến giờ, thu nhập bình quân/ người Việt/ năm mới đạt 1.000 USD. Trong khi đó, các quốc gia như Đức, Nhật, Ba Lan, Tiệp Khắc bị tàn phá thảm hại sau chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng sau 35 năm họ đã thành cường quốc kinh tế, thu nhập bình quân đạt trên 10.000 USD/ người/ năm”.

Chiến tranh liệu có thể mãi là “bình phong” để cho ta che đậy sự kém cỏi? Điều gì là vật cản khiến tố chất thông minh của người Việt không “phát” lên được, không biến thành tài nguyên chất xám làm giàu cho nước Việt, thành vòng nguyệt quế kiêu hãnh trên vầng trán nước Việt, khi mà rất nhiều quốc gia tương tự như ta, đều đang ngẩng đầu tiến về phía trước?

Đọc tiếp »


Tướng Trung Quốc bàn về niềm tin và đạo đức

Tháng Tám 16, 2010

Có một câu chí lý thế này: Hay bàn luận về khuyết điểm của người khác thì anh là kẻ đạo đức thấp kém. Hay bàn luận về khuyết điểm của nhân loại thì anh là một nhà tư tưởng.

LTS: Lưu Á Châu sinh năm 1952, là con rể cố Chủ tịch nước Trung Quốc Lý Tiên Niệm, có thời là Phó Chính uỷ bộ đội không quân Trung Quốc, nay là Chính uỷ Trường đại học Quốc phòng Trung Quốc, từng là giáo sư thỉnh giảng của ĐH Stanford Mỹ. Ông đồng thời là một nhà văn có tiếng, chủ nhân một số giải thưởng văn học. Các bài viết của ông ngôn từ mạnh dạn, quan điểm mới mẻ (nhất là quan điểm đối với Mỹ), lập luận sắc bén của ông được dư luận rất quan tâm.

Dưới đây là phần lược dịch bài nói ngày 11/9/2002 của ông – Trung tướng không quân Lưu Á Châu, lúc đó là Chính uỷ bộ đội không quân Quân khu Thành Đô Trung Quốc, trước các cán bộ quân đội cấp tiểu đoàn trở lên tại căn cứ không quân Côn Minh, Vân Nam.

Tuần Việt Nam xin đăng lại ý kiến cá nhân của ông, một vị Trung tướng của Trung Quốc để rộng đường dư luận. Mời quý bạn đọc gần xa, trong nước và nước ngoài gửi bài, ý kiến trao đổi, tranh luận.

Người phê phán văn hoá Trung Hoa

Trong quá khứ, tôi trước tiên là người kế thừa văn hoá Trung Hoa, sau đó mới là người phê phán văn hoá Trung Hoa. Hiện nay tôi trước tiên là người phê phán văn hoá Trung Hoa sau đó mới là người kế thừa.

Lịch sử phương Tây là một bộ sử sửa cái xấu, cái sai thành cái tốt, cái đúng. Lịch sử Trung Quốc thì là một bộ sử sửa cái tốt cái đúng thành cái xấu cái sai. Thời cổ, phương Tây cái gì cũng cấm, chỉ có điều không cấm bản năng con người. Trung Quốc cái gì cũng không cấm, riêng bản năng thì cấm.

Người phương Tây dám thể hiện bản thân, tức thể hiện tư tưởng mình và còn dám phô bầy thân xác loã lồ của mình. Trung Quốc chỉ biết mặc quần áo, mặc quần áo cho tư tưởng. Mặc bao giờ cũng dễ hơn cởi. Phương Tây đả kích mặt đen tối của mình, cho nên tìm được ánh sáng, tư tưởng của họ đang bay bổng. Chúng ta ca ngợi sự sáng sủa của mình, kết quả đem lại bóng tối nghìn năm.

Trung Quốc không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Hegel từng nói: “Trung Quốc không có triết học.” Tôi cho rằng mấy nghìn năm nay Trung Quốc chưa sản sinh được nhà tư tưởng nào. Nhà tư tưởng tôi nói là những người như Hegel, Socrates, Plato, những nhà tư tưởng ấy có cống hiến to lớn đối với tiến trình văn minh nhân loại. Lão Đan [tức Lão Tử - ND], bạn nói ông ấy là nhà tư tưởng phải không?

Chỉ dựa vào “Đạo đức kinh” 5000 chữ mà có thể làm nhà tư tưởng ư? Đấy là chưa nói “Đạo đức kinh” của ông có vấn đề.

Khổng Tử có thể coi là nhà tư tưởng chăng? Thế hệ chúng ta xem xét ông thế nào? Tác phẩm của ông bị xem xét ra sao? Tác phẩm của ông chưa từng cung cấp cho nội tâm người Trung Quốc một hệ thống giá trị có thể đối kháng quyền lực thế tục. Cái mà ông cung cấp là tất cả xoay xung quanh quyền lực.

Nếu Nho học là một tôn giáo thì đó là một tôn giáo rởm; nếu là tín ngưỡng thì là tín ngưỡng rởm; nếu là triết học thì đó là triết học của xã hội quan trường hoá. Xét trên ý nghĩa này thì Nho học có tội với người Trung Quốc.

Trung Quốc không thể có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Xã hội Trung Quốc là xã hội binh pháp, dân tộc ta chỉ tôn sùng nhà mưu lược. Một Gia Cát Lượng chẳng mấy thành công về sự nghiệp lại được người ta kỷ niệm nhiều lần. Ông ấy bụng dạ kém khoáng đạt, cách dùng người cũng chưa thích hợp.

Có tư liệu cho thấy ông ta còn là kẻ lộng quyền. Nhưng chính con người như thế lại được nâng lên tầm cao phát sợ. Đây cũng là một phác hoạ tâm hồn dân tộc ta. Dưới hình thái xã hội như thế có ba loại hành vi thịnh hành ở Trung Quốc.

Đọc tiếp »


Nỗ lực vô vọng của nhà truyền giáo xứ Phù Tang

Tháng Tám 6, 2010

Giáo sư Kenichi Ohno, cùng các cộng sự của mình, ngay từ ngày đầu đã có tham vọng tác động thẳng vào giới lãnh đạo cấp trung ương, nhằm hình thành một chiến lược công nghiệp hỗ trợ trong mối quan hệ đối tác chiến lược về công nghiệp.

Theo thành viên Tổ Tư vấn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Vũ Quốc Tuấn, người đầu tiên nói về khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” với người lãnh đạo cao nhất của chính phủ là Giáo sư Trần Văn Thọ – một trong ba thành viên Việt Kiều của tổ tư vấn. Tuy nhiên, người có công truyền bá ý tưởng đó suốt 15 năm ở Việt Nam là Giáo sư Kenichi Ohno, hiện là Giám đốc Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) – một dự án giữa Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản (GRISP) và Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.

Sự thừa nhận cay đắng

Có hai chuyên gia tư vấn nước ngoài gây được sự chú ý ở Việt Nam, nhất là từ giới truyền thông. Đó là Giáo sư David Dapice cùng nhóm Harvard, và Giáo sư Kenichi Ohno.

Nhóm của Giáo sư Dapice đã chọn cách tư vấn ở cấp chính quyền địa phương, ở những nơi những người lãnh đạo mong muốn có sự thay đổi. Họ cố gắng đạt những thành công cụ thể, để thu hút sự chú ý từ cấp cao hơn.

Trong khi đó, Giáo sư Ohno, cùng các cộng sự của mình, ngay từ ngày đầu đã có tham vọng tác động thẳng vào giới lãnh đạo cấp trung ương, nhằm hình thành một chiến lược công nghiệp hỗ trợ trong mối quan hệ đối tác chiến lược về công nghiệp.

Sau một thập kỷ rưỡi kiên trì đi theo hướng này, Giáo sư Ohno đã phải thừa nhận rằng dường như đồng nghiệp người Mỹ của ông đã đi đúng hướng. Đầu năm 2008, lãnh đạo chính phủ Việt Nam, trong sự tìm kiếm nhóm giải pháp chống lạm phát, đã trực tiếp lắng nghe những phân tích, và, phần nào đó, tiếp thu những khuyến nghị của nhóm này.

Còn người cao nhất trong hệ thống hành pháp của Việt Nam, cho đến nay, Giáo sư Ohno được gặp trực tiếp chỉ là một vị thứ trưởng phụ trách lĩnh vực công nghiệp. Và, gần đây, Giáo sư Ohno đã nói rằng mối quan tâm của ông về phát triển công nghiệp hỗ trợ đã chuyển sang Ethiopia – một đất nước đi sau Việt Nam 20 năm, nếu tính về GDP trên đầu người, nhưng lại đi trước Việt Nam trong tư duy hoạch định chính sách công nghiệp, trong đó có công nghiệp hỗ trợ.

Đọc tiếp »


Chính sách hướng ngoại của Trung Quốc thất bại

Tháng Bảy 16, 2010

Chính phủ Trung Quốc luôn trộn lẫn khéo léo giữa viện trợ giữa chính phủ – chính phủ với các hình thức khuyến khích khác để các doanh nghiệp Trung Quốc mua tài sản ở nước ngoài.

Và trong chính sách tiền tệ song phương, Bắc Kinh ưu tiên các công cụ đầu tư trực tiếp, trợ cấp trực tiếp, các khoản vay ưu đãi, khoản vay với thời hạn hào phóng hơn so với trên thị trường.

Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu khuyến khích các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài từ năm 1999, song chính sách “hướng ngoại” này đã chết yểu ngay khi mới bắt đầu.

Khi đó, Trung Quốc tập trung sửa đổi khu vực doanh nghiệp nhà nước đang rệu rã, và lĩnh vực tư nhân vẫn yếu kém nên chưa thể hướng ra bên ngoài được. Chính sách này đã trở lại vào năm 2005, không lâu sau khi lượng dự trữ ngoại tệ trong PBC tăng vọt, và các doanh nghiệp nhà nước đã khẳng định được vị trí đứng đầu của mình trong nhiệm vụ đầu tư ra nước ngoài. Khi đó, nhu cầu về năng lượng và nguyên liệu đầu vào cho sự tăng trưởng nóng của nền kinh tế ngày càng lớn, việc tìm kiếm các nguồn tài nguyên mới mở rộng ra toàn thế giới.

Trong 10 năm đầu áp dụng chính sách hướng ngoại này, châu Á luôn là một khu vực có lợi ích lớn đối với các công ty Trung Quốc. Châu Phi và Mỹ Latinh giờ cũng đang ngày càng trở thành mối quan tâm lớn tương tự.

Đọc tiếp »


Tập đoàn ở Việt Nam và cách giải cứu không giống ai

Tháng Bảy 16, 2010

LTS: Việc một số tập đoàn nhà nước làm ăn không hiệu quả và gần đây nhất là vụ đổ vỡ của Vinashin khiến dư luận không thể không cho rằng: đang rất cần một cuộc xác định nghiêm túc lại vai trò của khu vực, mà đến nay vẫn và sẽ tiếp tục được coi là giữ vao trò chủ đạo của nền kinh tế. Bài viết không nhằm mổ xẻ Vinashin, những kinh nghiệm của Vinashin được đưa ra như những biểu hiện lâm sàng thuyết phục nhất khi bàn về căn bệnh tiềm ẩn, mà nhiều người đã đề cập của các tập đoàn kinh tế, hay nói rộng hơn là khối doanh nghiệp nhà nước và đằng sau nó là cách quản lý, điều hành của Nhà nước với khối doanh nghiệp này.

Từ thực tế đổ vỡ, đến can thiệp của nhà nước, cách ứng cứu, giải quyết hậu quả của Vinashin đều cơ bản mang nặng tư duy, dấu ấn của nền kinh tế quản lý tập trung, trong khi Vinashin được tổ chức theo mô hình kinh tế thị trường.

Dư luận, truyền thông, chính giới, các nhà khoa học, đông đảo người Việt trong và ngoài nước quan tâm, đang chấn động bởi sự đổ vỡ của tập đoàn Vinashin. Thế giới cũng từng chứng kiến nhiều tập đoàn hàng đầu quốc gia phá sản, hoặc trước nguy cơ phá sản, nhất là ngành ngân hàng kéo theo cả thị trường tài chính quốc gia, gây hiệu ứng khủng hoảng lên toàn cầu, và cũng không lạ gì những biện pháp giải cứu, hoặc đứng ngoài, của chính phủ họ. Tuy nhiên, Vinashin Việt Nam chỉ giống thế giới ở chỗ đổ vỡ, còn nguyên nhân lẫn cách thức giải cứu thì khác họ, kể cả một số quan niệm của giới khoa học lẫn chính khách.

Đọc tiếp »


Mường tượng về một thế giới hậu Trung Hoa

Tháng Bảy 14, 2010

Kết cục của sự bùng nổ đã hiển hiện và các hậu quả mang tính domino của suy trầm kinh tế Trung Quốc sẽ lan ra khắp toàn cầu. Đối với các nhà đầu tư, đã đến lúc mường tượng về một thế giới xa hơn “câu chuyện Trung Hoa”.

Cách thức mà kinh tế toàn cầu bắt đầu một thập kỷ vận động không hề cho ta biết nhiều về cách mà nó sẽ kết thúc. Năm 2000, mô hình kinh tế Anglo-Saxon đã thoái trào và cuộc cách mạng công nghệ đã quét qua địa cầu. Các quốc gia mới nổi chỉ đơn thuần là những buổi trình diễn nghiệp dư so với đại lễ hội Wall Street, họ chỉ thu hút được chưa đến 5% dòng vốn đổ vào thị trường chứng khoán toàn cầu. Một thập kỷ trước, điểm nóng chính là Nhật Bản, ngôi sao đã làm thay đổi sân khấu kinh tế toàn cầu những năm 80.

Trong chiến dịch vận động tranh cử Tổng thống Mỹ năm 1992, một ứng cử viên đã tổng kết như thế này: “Chiến tranh Lạnh đã kết thúc và Nhật Bản đã thắng”. Ngày nay, Nhật Bản lại bị xem là thứ đã lỗi thời và tất cả các con mắt ngưỡng mộ đều nhìn về sự bùng nổ Trung Hoa, một thế lực quá mạnh mẽ đến nỗi nó nâng đỡ sự đi lên của nhiều nền kinh tế khác.

Các nước giàu tài nguyên như Brazil hay Australia đã có được vị thế kinh tế toàn cầu chủ yếu nhờ cung cấp quặng sắt, đồng và những thứ nguyên liệu khác cho các kỳ quan xây dựng tại Trung Quốc. Nhiều nhà đầu tư tên tuổi tin rằng sự bùng nổ Trung Hoa sẽ tiếp tục, nhờ chi tiêu đầu tư. Vốn đầu tư hiện chiếm tới 45% nền kinh tế Trung Quốc, tỷ lệ chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, cả ở Trung Quốc lẫn ở các nền kinh tế khác. Nhưng Trung Quốc đã chỉ có thể duy trì tỷ lệ chi tiêu này trong nhiều năm liên tiếp chủ yếu nhờ vào việc công nghiệp hóa nền kinh tế nông thôn rộng lớn.

Vì vẫn còn nhiều nhân công để cung cấp cho các nhà máy mới tại những khu kinh tế mới mở, chính phủ nước này có thể sẽ tiếp tục đổ tiền vào các dự án đường cao tốc và nhà máy. Các chuyên gia phân tích đã dự báo rằng suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 sẽ làm giảm nhu cầu nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc và kéo nền kinh tế này đi chậm lại. Xuất khẩu của Trung Quốc đã giảm mạnh nhưng ban lãnh đạo Bắc Kinh đã phát động kế hoạch kích thích kinh tế rầm rộ, tập trung quanh việc chi tiêu nhiều hơn cho cơ sở hạ tầng, khiến đầu tư bùng nổ và giữ cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao hơn mục tiêu thường niên 8% vốn được ca ngợi bấy lâu.

Đọc tiếp »


Tái cơ cấu, Vinashin bị chẻ làm 3

Tháng Sáu 30, 2010

Bất ngờ bị chẻ làm 3 trong khi đang nợ đầm đìa, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đang bị nghi đẩy các mảng kinh doanh xương xẩu sang cho Tập đoàn Dầu khí VN và Tổng công ty Hàng Hải.

Theo nghị quyết ngày 22/6 của Đảng ủy và Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin), tập đoàn sẽ phải tái cơ cấu chuyển giao một số cơ sở và chi nhánh cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines).

Bộ giao thông Vận tải cho biết, sẽ phối hợp với Bộ Tài chính để thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng về việc tái cơ cấu Tập đoàn Vinashin. Ảnh: Vinashinship.

Một cán bộ cấp cao của Vinashin cũng khẳng định với VnExpress.net, tái cơ cấu Vinashin thực chất là để tập đoàn này có thể tập trung vào các ngành nghề kinh doanh mũi nhọn như đóng, sửa chữa tàu thủy, phát triển vật tư thiết bị nhà máy thép và khu công nghiệp quanh các nhà máy đóng tàu. Vinashin sẽ chuyển giao lại cho Tổng công ty Hàng hải một số công ty con thuộc lĩnh vực vận tải biển, cảng biển và một số khu công nghiệp đang trong quá trình xây dựng. Chuyển giao cho PVN một số lĩnh vực liên quan đến dầu khí.

Ông Nguyễn Văn Công, Chánh văn phòng Bộ giao thông Vận tải cho biết, Bộ Giao thông Vận tải sẽ phối hợp với Bộ Tài chính để thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng về việc tái cơ cấu Tập đoàn Vinashin.

Nghị quyết ký ngày 22/6, 3 ngày trước thời điểm Thủ tướng có quyết định chuyển công ty mẹ Vinashin thành Công ty TNHH một thành viên với số vốn điều lệ 14.655 tỷ đồng. Trong kỳ họp Quốc hội cuối năm 2009, báo cáo kết quả giám sát các tập đoàn, tổng công ty nhà nước của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho thấy số nợ của Vinashin lên tới gần 19.900 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu vượt 10,9 lần. Số nợ quá hạn của Vinashin xấp xỉ 3.900 tỷ đồng, chiếm 91,4% tổng số nợ quá hạn của cả 7 tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Thời điểm tái cơ cấu đúng vào lúc Vinashin đang nợ đầm đìa khiến nhiều người lo ngại, đây là chiến thuật chia sẻ gánh nặng nợ nần của doanh nghiệp đầu ngành về tàu thủy.

Đọc tiếp »


Ngành điện: Não trạng vẫn theo lối mòn

Tháng Sáu 29, 2010

Oxford Analytica, một công ty tư vấn chiến lược độc lập với mạng lưới khoảng hơn 1000 học giả, chuyên gia tại Oxford và các trường ĐH, viện nghiên cứu hàng đầu thế giới vừa có phân tích về ngành điện lực Việt Nam và những nỗ lực cải cách quản lý đăng trên Forbes. Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu.

Nhiều năm qua, vấn đề đầu tư cho ngành điện lực Việt Nam, vốn đặc biệt cần thiết, đã là vấn đề tranh cãi dai dẳng giữa các nhà kỹ trị theo hướng thị trường trong chính phủ với các quan chức của công ty điện lực quốc gia (EVN) được đào tạo tại Liên Xô. Các quyết định về giá điện đưa ra năm ngoái có thể dẫn tới một bước đột phá – nhất là khi tình trạng thiếu điện đã trở thành vấn đề nhức nhối.

Mỗi năm khi mùa khô tới, các doanh nghiệp và người dân lại phải chịu cảnh bị cắt điện. Năm 2010 là năm tồi tệ nhất. Mới chỉ một năm kể từ khi nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu – với việc sản xuất bùng nổ mạnh – nhưng hạn hán lại xảy ra trên toàn Đông Nam Á, làm giảm đáng kể sản lượng điện của các nhà máy thủy điện. Khi báo chí đưa tin mất điện kéo dài và trên diện rộng, dư luận bắt đầu tranh cãi về việc vấn đề này không phải do thời tiết không thuận lợi, mà do cách quản lý chưa tốt.

Cải cách chậm chạp

Quá trình chuyển đổi chậm chạp từ các doanh nghiệp nhà nước sang các thể chế thị trường, thoát khỏi định hướng chính trị, đã khiến nền kinh tế phải trả giá đắt. Điều này đặc biệt đúng trong ngành điện lực.

Từ năm 2000, cuộc cải cách ngành điện đã được coi là một ưu tiên. Việt Nam có đủ các văn bản pháp lý nền tảng, cũng như các cố vấn và hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới (WB) kêu gọi chú trọng vấn đề này. Chính sách quốc gia khẳng định việc phát điện, truyền tải và phân phối điện sẽ không bị “bó hẹp” và toàn bộ ngành này sẽ được mở ra cho cạnh tranh dần dần theo từng bước cho tới năm 2020.

Đọc tiếp »


Đã đến lúc châu Á viết lại chủ nghĩa tư bản

Tháng Sáu 29, 2010

Thành công của chủ nghĩa tư bản dựa trên sự tàn phá trong thế kỷ XX đã gây ra cuộc khủng hoảng của thế kỷ XXI: thảm họa biến đổi khí hậu, hủy hoại môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Châu Á đang ở trung tâm cuộc khủng hoảng này.

Mô hình kinh tế của phương Tây, theo đó định nghĩa thành công là tăng trưởng dựa trên sự tàn phá thiên nhiên, cần phải bị phản đối. Châu Á là nơi hứa hẹn nhiều nhất cho sự tiếp nối mô hình này vì dân số đông, nhưng ngược lại, cũng chính là khu vực phù hợp nhất để thể hiện sự phản đối đó.

Những người bảo vệ mô hình của phương Tây có xu hướng nói giảm các tác động thảm họa đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Họ không thừa nhận rằng lời khuyên của họ đang đi ngược lại với sự đồng thuận trong giới khoa học về các giới hạn và sự cần thiết phải áp dụng các quy định nghiêm ngặt trong quản lý nguồn tài nguyên.

Thay vào đó, họ cho rằng sự khéo léo của con người, cùng với sự cải tiến trong các thị trường, sẽ giúp tìm ra giải pháp. Điều này càng khắc sâu thêm một niềm tin phi lý rằng chúng ta có thể có mọi thứ: ngày càng nhiều của cải vật chất và một môi trường thiên nhiên khỏe mạnh.

Hãy tưởng tượng một thế giới vào năm 2050, 4 trong số 5 tỷ dân châu Á tiêu dùng như người Mỹ. Kết quả sẽ thật thảm hại, nhưng đây lại là điều châu Á đang nói là họ mong muốn. Khi khu vực này đang nổi lên, 2 tỷ người hiện đang bị gạt ra ngoài lề nền kinh tế tiêu dùng sẽ thay đổi cơ bản cán cân cung – cầu toàn cầu, không chỉ đối với các mặt hàng không thể tái chế như dầu và than đá, mà cả những mặt hàng có thể tái sản xuất như lương thực. Điều này không có gì đi ngược lại học thuyết nhân khẩu học của Thomas Malthus.

Đọc tiếp »


Trung Quốc có một bí mật

Tháng Sáu 29, 2010

Mỗi quốc gia có một phong cách ngoại giao riêng: Kiểu nghi thức thuộc về người Anh; kiểu lảng tránh là Nga; kiểu bền bỉ là Pháp và Brazil. Còn với Trung Quốc và quân đội của họ, tất cả là chữ mơ hồ. Bắc Kinh trở thành bậc thầy trong việc gây ra những tranh luận mà thực tế không hề tồn tại.

Tại sao giới quân sự Trung Quốc không thích trao đổi với Robert Gates?

Bằng chứng là cuộc gặp bộ trưởng quốc phòng tại Đối thoại Shangri-La thường niên ở Singapore. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates đã công khai chỉ trích Bắc Kinh trong việc “cản trở” những nỗ lực của Mỹ để cải thiện quan hệ quân sự – quân sự hai bên.

Ảnh minh họa (Ảnh foreignpolicy)

Phát biểu lập tức sau bình luận của Gates và trả lời một câu hỏi từ khán phòng, Tướng Mã Hiếu Thiên – Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), đã cáo buộc Washington “tạo ra những trở ngại” bằng việc tiếp tục ủng hộ Đài Loan hay can thiệp vào chuyện chủ quyền của Trung Quốc.

Thoạt nhìn, mọi thứ rõ ràng là nhìn thấy trước: Mỹ thông qua việc bán vũ khí cho Đài Loan và Trung Quốc ngăn cản. Nhưng sự thực là, việc Bắc Kinh miễn cưỡng cam kết cho những cuộc đàm phán quân sự – quân sự cấp cao có hiệu quả chính là một phần của chương trình “theo đuổi chiến lược mơ hồ”. Trung Quốc “dàn xếp” đủ để làm một đối tác, nhưng cũng che đậy đủ để vẫn là một mối đe dọa.

Đọc tiếp »


Chiến thuật tiền tệ cực kỳ vị kỷ của Trung Quốc

Tháng Sáu 29, 2010

Dù Bắc Kinh đã phát đi tín hiệu, nhưng đừng trông đợi tỷ giá đồng Nhân dân tệ sẽ thay đổi nhiều; xem ra người Trung Quốc chỉ muốn đánh lạc hướng áp lực quốc tế trước thềm Hội nghị thượng đỉnh G-20 và đó là chiến thuật kéo dài thời gian giúp sức cho các nhà xuất khẩu Đại lục.

Chính sách tiền tệ cực kỳ vị kỷ của Trung Quốc đã khiến nhiều nước khó chịu.

Kể từ tháng 7/2008, đồng Nhân dân tệ đã được “mua bán” – nếu chúng ta có thể sử dụng thuật ngữ ngày – với tỷ giá tham chiếu 6,83 NDT đổi 1 USD. Đó là vì Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC), ngân hàng trung ương đóng tại Bắc Kinh đã bận rộn mua đi bán lại các đồng tiền để đảm bảo NDT giữ nguyên mốc này với mỗi ngày trôi qua trong giao thương quốc tế.

Hầu hết các nhà phân tích cho rằng NDT đang được định giá thấp, có thể vào khoảng 25-40% so với USD. Thế nhưng chẳng có ai thực sự biết được giá trị thực của nó bởi Bắc Kinh đã quyết tâm can thiệp vào thị trường tiền tệ. Bằng cách giữ cho NDT thấp một cách giả tạo, chính phủ trung ương đã giúp hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang các nước rẻ phi lý.

Hôm 19/6, ngân hàng trung ương Trung Quốc phát đi tín hiệu thả nổi đồng Nguyên – tên gọi thông dụng của NDT. Ngay hôm sau, thể chế tài chính này đã đính chính rằng sự điều chỉnh tỷ giá đồng tiền sẽ ở mức thấp. Và ở phiên giao dịch đầu tiên sau tuyên bố của PBOC, tỷ giá tham chiếu của NDT vẫn giữ nguyên.

Đọc tiếp »


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.