Rủi ro từ các siêu liên kết

Tháng Mười Một 18, 2009

SGTT – Điều gì khiến một cổ phiếu có kết quả kinh doanh ổn định, lại tăng trần hàng chục phiên? Kết quả kinh doanh không nhiều ấn tượng, nhưng không chỉ giúp thị giá doanh nghiệp này tăng nhanh mà còn có thể làm thay đổi kết quả kinh doanh của các công ty khác.

Một đồng lời sẽ nhân thành nhiều đồng trong kết quả kinh doanh nhờ liên kết chéo. Ảnh: Lê Quang Nhật

Sau 31 phiên tăng điểm, trong đó có 28 phiên tăng kịch trần kể từ ngày 7.9, thị giá cổ phiếu của công ty cổ phần Sông Đà 9.06 đã tăng gần tám lần. Mức giá cao nhất ngày 20.10 là 135 ngàn đồng mỗi cổ phiếu. Chuỗi tăng quá ấn tượng như vậy dù “kết quả kinh doanh không có nhiều ấn tượng” như nhận xét của nhóm phân tích công ty chứng khoán An Bình buộc công ty phải giải trình với sàn Hà Nội là do hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định cũng như sức hấp dẫn của việc phát hành thêm cổ phiếu bằng mệnh giá cho cổ đông để tăng vốn từ 25 tỉ đồng lên 100 tỉ đồng..

Giải mã cổ phiếu tăng nóng

Theo báo cáo kết quả kinh doanh quý 2, đơn vị này đạt lợi nhuận sau thuế là 986 triệu đồng. Luỹ kế lợi nhuận sau thuế nửa năm 2009 là 1,45 tỉ đồng trên tổng vốn điều lệ 25 tỉ đồng.

Nếu đọc báo cáo kết quả kinh doanh quý 3 thì khó có thể đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định như giải trình của lãnh đạo Sông Đà 9.06. Doanh thu quý 3 đạt 3,241 tỉ đồng, chỉ bằng 25% doanh thu của quý trước. Tuy doanh thu giảm, nhưng lợi nhuận sau thuế lại tăng chủ yếu do doanh thu tài chính mang lại. Trong quý 3, công ty trực thuộc tổng công ty Sông Đà này có doanh thu tài chính lên tới 4,112 tỉ đồng, tăng gấp tám lần con số tương ứng của quý 2. Nhờ vậy, tổng lợi nhuận sau thuế của ba quý đạt 5,537 tỉ đồng.

Đọc tiếp »


Gần 50% tập đoàn, tổng công ty có hiệu quả hoạt động thấp

Tháng Mười Một 5, 2009

45,05% tổng số tập đoàn, tổng công ty Nhà nước có hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp, chưa phát huy tốt các lợi thế vượt trội từ sự quan tâm đầu tư và ưu đãi nhiều mặt của Nhà nước…

evn

Năm 2008, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã đầu tư vào lĩnh vực tài chính khoảng 2.146 tỷ đồng. Trong khi tập đoàn này báo cáo còn thiếu 382.884 tỷ đồng để đảm bảo kế hoạch đầu tư xây dựng nguồn điện và lưới điện từ nay đến năm 2015.

Đây là đánh giá của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước (tính từ năm 2006 đến 31/12/2008).

Báo cáo này vừa được gửi đến các vị đại biểu Quốc hội để phục vụ cho cuộc giám sát tối cao về nội dung này vào thứ hai tuần sau (9/11).

Đọc tiếp »


Cổ phiếu thưởng: Lấy của mình thưởng cho… mình

Tháng Mười Một 4, 2009

Sau một thời gian dài trầm lắng, làn sóng chia cổ phiếu thưởng lại xuất hiện trên thị trường chứng khoán. Nhiều nhà đầu tư – dù trước đó đã thua lỗ đến sạt nghiệp – vẫn đua theo trào lưu và quên luôn bài học “vỡ lòng” về đầu tư đó.

cpthuong

Trong giai đoạn thị trường khởi sắc, thông tin chia thưởng cổ phiếu được xem như một lực đỡ quan trọng cho giá chứng khoán tăng hàng ngày – Ảnh: Quang Liên.

Các doanh nghiệp khi chọn hình thức chia thưởng cổ phiếu có muôn vàn lý do. Có doanh nghiệp chia thưởng trong năm 2009 nhằm hỗ trợ cổ đông không phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Nhưng cũng có những doanh nghiệp chọn hình thức này để tăng vốn điều lệ, từ đó tăng năng lực tài chính và có cơ hội tiếp cận khoản vay lớn hơn để thực hiện các dự án lớn…

Còn về phía thị trường, nhất là trong giai đoạn thị trường khởi sắc, thông tin chia thưởng cổ phiếu được xem như một lực đỡ quan trọng cho giá chứng khoán tăng hàng ngày.

Đối với những cổ phiếu có thị giá cao, việc chia tách sẽ gia tăng tính thanh khoản do giá cổ phiếu đã được điều chỉnh giảm theo tỷ lệ chia thưởng. Những nhà đầu tư ít vốn sẽ có cơ hội đầu tư khi có cảm giác cổ phiếu đã rẻ đi. Việc cho phép nhiều nhà đầu tư có mức tiền vừa phải sẽ tham gia nhiều hơn, làm tăng cầu chứng khoán và khi cầu chứng khoán tăng sẽ tác động làm tăng giá chứng khoán.

Đọc tiếp »


Phía sau hiệu ứng vượt kế hoạch lợi nhuận

Tháng Mười 6, 2009

Sau 3 quý, nhiều doanh nghiệp đã vượt xa kế hoạch lợi nhuận cả năm. Phía sau kết quả đó là những điểm cần lưu ý.

Mới chỉ kết thúc tháng 9 vài ngày, một loạt doanh nghiệp niêm yết đã công bố kết quả kinh doanh cập nhật cả 3 quý đầu năm. Có thể thấy những doanh nghiệp đã công bố “đương nhiên” có những con số vượt trội.

hieuungloinhuan

Nhưng còn quá sớm để khẳng định một xu thế lạc quan chung. Nhưng cũng đủ để thấy có những điểm chung nổi bật trong một năm nhiều biến động.

Hiệu ứng vượt xa kế hoạch

Không chờ đến hết quý 3, ngay từ đầu tháng 8 một loạt doanh nghiệp trên sàn niêm yết đã rục rịch tổ chức lấy ý kiến cổ đông để điều chỉnh kế hoạch kinh doanh. Nguyên do, thực tế đạt được vượt quá xa với dự tính đặt ra từ đầu năm.

Đến ngày 5/9, trong số những trường hợp đã công bố thông tin ban đầu, Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng (DRC, sàn HOSE) đang giữ kỷ lục về sự vượt trội đó. 9 tháng đầu năm, lợi nhuận của công ty này ước lên tới 280 tỷ đồng, tương đương 538,46% kế hoạch. Điều này cũng lý giải vì sao giá cổ phiếu DRC có chặng tốc hành thuộc nhóm nóng nhất trên sàn tháng qua.

Đọc tiếp »


Dễ sập bẫy với lợi nhuận đột biến

Tháng tám 16, 2009

Nhiều doanh nghiệp lãi lớn nhờ vào việc trữ nguyên liệu giá thấp chứ không phải do năng lực sản xuất hay uy tín thương hiệu. Giá cổ phiếu của họ vì thế không bền vững.

Trong danh sách các doanh nghiệp niêm yết mới báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm đã xuất hiện nhiều đơn vị có lợi nhuận tăng cao đột biến. Đi kèm theo báo cáo tài chính là phần thuyết minh (hoặc giải trình) về nguyên nhân tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, do phải giữ bí mật kinh doanh hoặc không muốn người ngoài biết rõ ngọn nguồn lợi nhuận nên nhiều doanh nghiệp chỉ thuyết minh sơ sài, khó hiểu. Nhiều nhà đầu tư vì thiếu kiến thức tài chính, thiếu kinh nghiệm thương trường, bị ngộ nhận về con số lợi nhuận, thường đặt mua những cổ phiếu này ở mức giá cao, để rồi sau đó lại ân hận…

Đọc tiếp »


Tiền ảo đe dọa tiền thật ở Trung Quốc

Tháng Bảy 8, 2009

Việc mua bán các loại tiền ảo sử dụng trong các trò chơi trực tuyến đang phát triển mạnh ở Trung Quốc đến nỗi các nhà chức trách lo ngại vấn đề này sẽ tác động tiêu cực tới nền kinh tế thật.

omg

Trung Quốc là một trong những thị trường trò chơi trực tuyến lớn nhất thế giới. Ước tính, có hàng chục triệu thanh niên Trung Quốc tham gia trao đổi các loại hàng hóa và tiền ảo trên mạng bằng hàng hóa thật và tiền thật.

Các loại tiền ảo ở Trung Quốc đã trở nên mạnh đến nỗi có thể kéo thị trường dịch chuyển. Loại tiền ảo QQ do “đại gia” Internet có tên Tencent của Trung Quốc phát hành nhiều lúc còn tăng giá mạnh so với đồng Nhân dân tệ. Thực tế này khiến các quan chức của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc lo ngại.

Đọc tiếp »


Sự thổi phồng của phố Wall

Tháng Sáu 17, 2009

Một cuộc họp qua điện thoại với hơn 20 chuyên gia phân tích, các số liệu đã được biến tấu của UCBS cuối cùng cũng đã tới được phố Wall. Như thường lệ, chỉ có số ít người biết cuộc họp này và tham dự – đa phần là đại diện của những hãng lớn.

Johnston hùng hồn trình bày các số liệu mới về doanh thu, thể hiện rất rõ rằng công ty đã vượt quá cả những kỳ vọng lạc quan nhất của phố Wall. Các chuyên gia phân tích vội vã hoàn tất những bản báo cáo rất đẹp đẽ, thổi phồng kết quả kinh doanh của công ty… các nhà đầu tư đổ xô tìm mua cổ phiếu của công ty… và cổ phiếu UCBS đang từ 11 đôla đã tăng vọt lên 30 đôla.

Tổ chức bảo lãnh chính của UCBS là Harris & Jones, một trong các hãng môi giới chứng khoán và ngân hàng đầu tư sừng sỏ nhất ở phố Wall.

Harris & Jones đã tận dụng ngay cơ hội để thu được số vốn mà ngài CEO mong muốn. Nhà phân tích xuất sắc nhất hãng, một trong những tay chơi chứng khoán cừ khôi tại phố Wall đã đưa ra một bản phân tích hấp dẫn về công ty với khuyến nghị nên mua cổ phiếu của công ty này. Hàng loạt cổ phiếu được phân phối tới các nhà môi giới để cung cấp cho khách hàng.

Harris & Jones thậm chí còn đầu tư hàng triệu đôla vào hệ thống vệ tinh và thu hình của mình tại các văn phòng chính của hãng ở phố Wall để tất cả các thông tin liên quan tới việc chào bán chứng khoán có thể được công bố trên kênh CNBC, một mạng lưới tin tức về tài chính hàng đầu quốc gia. Harris biết rằng, hàng triệu nhà đầu tư sẽ xem chương trình này và những người này không muốn nghe theo những khuyến nghị về cổ phiếu của Bloomberg, trên trang web hoặc trên tờ Wall Street Journal vào sáng hôm sau. Với sự dẫn dắt của Harris, UCBS đã bán được hơn 3,5 triệu cổ phiếu với mức giá trung bình là 36 đôla cho mỗi cổ phiếu.

Đọc tiếp »


Mô hình “siêu thị” tài chính đến hồi cáo chung

Tháng Một 21, 2009

“Hồi chuông báo tử cho mô hình siêu thị tài chính Citigroup”. Đó là tựa đề một bài viết của hãng AP mới đây về Citigroup. Tập đoàn ngân hàng khổng lồ, “đại siêu thị tài chính” Citigroup (Mỹ) đang bị thua lỗ nặng nề

sieuthitaichinh

Một người biểu tình trước chi nhánh ngân hàng Citibank ở Hong Kong hồi cuối tuần rồi, để đòi lại khoản tiền bà mua trái phiếu của Lehman Brothers, tại ngân hàng này. Trên tấm bảng, bà viết: “Citibank đã lừa gạt khoản tiết kiệm của tôi. Xấu hổ cho Citi”. Ảnh: Reuters

Sau khi bị lỗ khoảng 10 tỉ USD trong quý 4/2008 và giá trị cổ phiếu tụt xuống mức thấp nhất trong 16 năm qua, Citigroup vừa tuyên bố sáp nhập công ty môi giới Smith Barney của họ với giá 2,7 tỉ USD vào một liên doanh với Morgan Stanley, cũng là một tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới. Ông William Smith, chủ tịch kiêm tổng giám đốc Smith Asset Management, người có cổ phần ở Citigroup, nhận định: “Tôi nghĩ rằng trong vòng 12 tháng tới, Citigroup có thể sẽ không còn nữa”. Ông đã kêu gọi chia tách Citigroup trong nhiều năm qua.

Xem tiếp…


Có lo lắng với dư nợ bất động sản?

Tháng Mười Một 24, 2008

Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục báo cáo về các khoản vay bất động sản trước 21/11. Vì sao Ngân hàng Nhà nước có động thái này, sau khi đã chính thức báo cáo với Quốc hội khoản vay ở mức 115 ngàn tỉ đồng? Báo giới đã phỏng vấn Tiến sĩ Lê Quốc Lý, Vụ trưởng Tài chính tiền tệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Theo ông, vì sao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lại có yêu cầu này?

Theo báo cáo, cho vay bất động sản là 115 ngàn tỉ đồng, chỉ chiếm khoảng 9,5% tổng dư nợ tín dụng. Tuy nhiên, nợ xấu của thị trường bất động sản vẫn chưa công bố hết, vì vậy, Ngân hàng Nhà nước cần kiểm tra lại.

Việc rà soát lại các khoản vay và các khoản thế chấp cho bất động sản là rất cần thiết. Nếu tốt thì không sao, nhưng ngân hàng nào có vấn đề thì phải có giải pháp để không xảy ra trường hợp đổ bể.

Yêu cầu của Thống đốc không có nghĩa là tình hình của các ngân hàng xấu, hay cho vay bất động sản xấu, mà là đã đến lúc phải giám sát các khoản vay, sau thời gian lỏng lẻo.

Xem tiếp…


Mỹ bơm 20 tỷ USD cứu Citigroup

Tháng Mười Một 24, 2008

Trong một động thái chưa từng có, cả 3 cơ quan quản lý tài chính quan trọng nhất của Mỹ đồng thuận đưa ra gói giải pháp trị giá 20 tỷ USD và bảo lãnh toàn bộ nợ của Citigroup, nhằm kéo tập đoàn có ảnh hưởng toàn cầu này khỏi nguy cơ sụp đổ.

citigroup

Logo của đế chế tài chính hùng mạnh một thời Citigroup có dòng chữ “Citi không bao giờ ngủ”. Ảnh: Reuters

Vào đêm chủ nhật 23/11 (trưa nay theo giờ Hà Nội), các cơ quan quản lý tài chính chủ chốt của Mỹ, gồm Bộ Tài chính, Cục Dự trữ liên bang (FED) và Hãng bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) đưa ra thông báo chung về các biện pháp lập lại ổn định tại Citigroup Inc. Đây là kết quả của những cuộc bàn thảo giữa lãnh đạo các cơ quan này trong suốt cuối tuần qua. Ông Timothy Geithner, Bộ trưởng Tài chính mới được Tổng thống đắc cử Obama chỉ định, cũng tham dự các buổi họp.

Quyết định giải cứu Citigroup được đưa ra dựa trên sự đồng thuận của 3 cơ quan quản lý tài chính, bởi nếu Citigroup không được hỗ trợ, sự sụp đổ của tập đoàn này sẽ tác động mạnh đến kinh tế Mỹ và thế giới. Citigroup là một thành phần quan trọng của thị trường tài chính thế giới, và có mối liên kết chặt chẽ với toàn hệ thống. Vì thế, nếu tập đoàn này phá sản, nó sẽ gây ra sự đổ vỡ lớn cho hệ thống tài chính vốn đã trở nên mong manh trong những tháng gần đây.

Xem tiếp…


Vì sao đô la Mỹ mạnh lên?

Tháng Mười 26, 2008

Các nhà phân tích thị trường đang loay hoay tìm cách lý giải vì sao đô la Mỹ, đồng tiền của một nước đang chật vật chống chọi khủng hoảng, lại lên giá mạnh so với hàng loạt đồng tiền của các nước rải đều khắp mọi châu lục

Đồng USD mạnh lên, đẩy giá vàng, dầu hoả và các loại hàng hoá khác xuống sâu. Ảnh: Trần Việt Đức

Đồng won của Hàn Quốc mất giá khoảng 32%, đồng đô la Singapore sụt đến 47%, đô la Úc giảm chừng 33%, đồng rupee của Ấn Độ mất khoảng 20% so với đô la Mỹ chỉ trong vòng mấy tháng đổ lại. Danh sách các đồng tiền mất giá như thế kéo dài đến hàng mấy chục, từ đồng rand của Nam Phi đến đồng peso của Mexico và thậm chí đồng euro nữa…

Xem tiếp…


Tương lai của chủ nghĩa tư bản

Tháng Mười 24, 2008

Sự sụp đổ của “tổng công ty America” khiến nhà nước Mỹ dù đã bỏ ra một gói trợ giúp 700 tỉ USD, vẫn chưa khôi phục được niềm tin. Qua đó, nhiều người cho rằng chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ cần phải được thay thế bằng một phiên bản khác.

Chúng ta đang rời khỏi thời đại vàng của thị trường tự do, tín dụng dễ dàng, giao dịch liều lĩnh, và những ngày lãnh lương trọng đại, để bước vào một mô hình mới với túi tiền thắt chặt, quy chế ngặt nghèo, đầu cơ giảm bớt và chính phủ can thiệp vào thị trường nhiều hơn

Hăm hở muốn tái khẳng định chính mình, chính khách khắp nơi đang kêu gọi những quy định mới và đòi “cải tổ” hệ thống tài chính. Trong khi đó, các quốc gia như Trung Quốc, cùng với các nước như Đức và Pháp, lại chào đón cuộc khủng hoảng tài chính này với thái độ nửa an lòng, nửa kẻ cả. Cả hai đều e sợ mô hình chủ nghĩa tư bản Anh – Mỹ, mặc dù với những lý do khác nhau. Cái chết của phố Wall bây giờ lại có nghĩa là các mô hình của họ không những là có thể sống sót mà còn hưng thịnh.

Xem tiếp…


Khủng hoảng tài chính Mỹ: Lòng tham là thủ phạm

Tháng Mười 24, 2008

(TBKTSG) – Câu hỏi đầu tiên của nhiều người khi chứng kiến những biến động sâu sắc trên thị trường tài chính nước Mỹ trong suốt tuần qua là vì sao mọi việc diễn ra nhanh chóng đến thế.

Chực chờ ngoài ngõ

Khủng hoảng tài chính ở Mỹ, xuất phát từ chuyện cho vay dưới chuẩn trên thị trường địa ốc diễn ra ngấm ngầm từ năm ngoái. Thế nhưng thủ phạm chính cho hàng loạt cuộc sụp đổ các đại công ty tài chính và ngân hàng đầu tư trong hai tuần qua là giới đầu cơ với công cụ mua bán khống.

Xem tiếp…


Khủng hoảng tài chính Mỹ: lỗi tại ai?

Tháng Mười 24, 2008

Ngay cả các chuyên gia Mỹ cũng có những quan điểm khác nhau về nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra tại Mỹ. Những rối loạn trong thị trường địa ốc ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng không phải là quy kết cuối cùng cho cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ. Có thể thấy trên tất cả các lý giải, căn nguyên của khủng hoảng nằm ở chính lòng tham của các ngân hàng, các nhà môi giới…

Khách hàng tập trung tại chi nhánh của ngân hàng Lehman Brothers ở Tokyo vào ngày 16.9, ngay sau khi có tin ngân hàng này tuyên bố phá sản. Sự đổ vỡ của Lehman Brothers là do các thua lỗ trong các giao dịch liên quan đến bất động sản. Ảnh: Reuters

Tại các chủ ngân hàng

Điều mà nhà chức trách ở Mỹ hiện đang ráo riết thực hiện là tìm ra những ngân hàng đầu tư nào đã giới thiệu với các nhà đầu tư những quỹ đầu tư mạo hiểm khổng lồ, ngay cả khi biết rằng các quỹ này sắp sửa nổ tung.

Các chủ ngân hàng tham lam đã chơi trò lừa đảo lớn. Họ cho rằng nếu có thể thuyết phục nhà đầu tư mua một thứ thực sự chẳng đáng giá gì, thì thứ đó sẽ lại trở nên đáng giá, và khiến nhà đầu tư thuyết phục nhiều người khác đổ tiền ra mua. Và khi sự thổi phồng này vỡ như bong bóng bị bơm quá căng, nhà đầu tư mất trắng, các chủ ngân hàng vẫn giữ được khoản hoa hồng béo bở và lãi suất cao.

Xem tiếp…


Tín dụng gặp khó, ngân hàng sống sao?

Tháng tám 8, 2008

Chi phí vốn đã tăng cao, ngân hàng lại bị Nhà nước hạn chế tăng trưởng tín dụng, trong khi tỷ trọng dịch vụ phi tín dụng trong thu nhập của các ngân hàng vẫn còn quá thấp – đây chính là vấn đề về nội lực của ngân hàng

Một hai năm trở lại đây các ngân hàng trong nước đã mạnh mẽ cải cách, nâng cấp và mở rộng hợp tác về dịch vụ, như thu hộ tiền mặt, thanh toán, cho vay hợp vốn, tài trợ vốn cho các dự án, tài trợ vốn tiêu dùng, phát hành thẻ, lắp đặt máy ATM… Tuy nhiên, ngân hàng vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng.

Đông Á được xem là ngân hàng phát triển nhiều dịch vụ, nhưng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ vẫn thấp so các ngân hàng quốc tế. Ảnh: L.Q.N

Vẫn trông chờ vào tín dụng

Đối với ngân hàng vừa và nhỏ, nguồn thu từ tín dụng chiếm tới 90% trong những năm qua. Theo công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC), trong quý 1/2008, tỷ lệ cho vay/huy động tiền gửi của ngân hàng vẫn khá cao, như Agribank là 115,7%, MHB 151,5%, Habubank 129,5%, Đông Á 121,4%, An Bình 101%, Quốc tế 104,4%. Một vài ngân hàng khác thấp hơn như ACB 64,2%, Sacombank 79%, Techcombank 81,9%, Quân đội 61,3%.

Cho vay vẫn là mảng hoạt động chính tại các ngân hàng với mức bình quân chiếm hơn 50% tổng tài sản. Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng, tín dụng vẫn là sản phẩm quan trọng mà các ngân hàng, nhất là các ngân hàng vừa và nhỏ, vẫn phải dựa vào trong thời gian tới.

Xem tiếp…


Mô Hình Phân Tích Tài Chính Dupont

Tháng Bảy 10, 2008

Mô Hình Dupont 

Mô hình Dupont là kỹ thuật có thể được sử dụng để phân tích khả năng sinh lãi của một công ty bằng các công cụ quản lý hiệu

 quả truyền thống. Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán.

 

Nguồn Gốc Mô Hình Dupont

Mô hình phân tích tài chính Dupont được phát minh bởi F.Donaldson Brown, một kỹ sư điện người đã gia nhập bộ phận tài chính của công ty hóa học khổng lồ này. Một vài năm sau đó, Dupont mua lại 23% cổ phiếu của tập đoàn General Motors . Và giao cho Brown tái cấu trúc tình hình tài chính lộn xộn của nhà sản xuất xe hơi này. Đây có lẽ là lần cải tổ trên qui mô lớn đầu tiên ở Mỹ.Theo Alfred Sloan, nguyên chủ tịch của GM, phần lớn thành công của GM về sau này có sự đóng góp không nhỏ từ hệ thống hoạch định và kiểm soát của Brown. Những thành công nối tiếp đã đưa mô hình Dupont trở nên phổ biến trong các tập đoàn lớn  tại Mỹ. Nó vẫn còn được sử dụng cực kỳ rộng rãi trong việc phân tích báo cáo tài chính đến những năm 1970.

 

Ứng Dụng Mô Hình Dupont

   . Mô hình có thể được sử dụng bởi bộ phận thu mua và bộ phận bán hàng để khảo sát hoặc giải thích kết quả của ROA.

   . So sánh với những hãng khác cùng  ngành kinh doanh

   . Phân tích những thay đổi thường xuyên theo thời gian

   . Cung cấp những kiến thức căn bản nhằm tác động đến kết quả kinh doanh của công ty

   . Cho thấy sự tác động của việc chuyên nghiệp hóa chức năng mua hàng.

 

Các Bước Trong Phương Pháp Dupont

   . Thu nhập số liệu kinh doanh ( từ bộ phận tài chính )

   . Tính toán ( sử dụng bảng tính )

   . Đưa ra kết luận

   . Nếu kết luận xem xét không chân thực , kiểm tra số liệu và tính toán lại

Thế Mạnh Của Mô Hình Dupont

   . Tính đơn giản. Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người kiến thức căn bản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty

   . Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên

   . Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng. Đôi khi điều cần làm trước tiên là  nên nhìn vào thưc trạng của công ty. Thay vì tìm cách thôn tính công ty khác nhằm tăng thêm doanh thu và hưởng lợi thế nhờ quy mô, để bù đắp khả năng sinh lợi yếu kém .

 

Hạn Chế Của Mô Hình Phân Tích Dupont

   . Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy

   . Không bao gồm chi phí vốn

   . Mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết và số liệu đầu vào.

 

Điều Kiện Áp Dụng Phương pháp Dupont

   . Số liệu kế toán đáng tin cậy.

 

…download tài liệu tham khảo tại đây: mo_-hinh_-phan_-tich_-tai_-chinh_-dupont

 

Phạm Sơn Huyền (dịch từ 12manage)


Bài học từ những nhà đầu tư Nhật

Tháng Bảy 4, 2008

(TBKTSG Online) – Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp khó khăn với đồng vốn vì những chính sách thắt chặt tiền tệ, một số doanh nghiệp Nhật Bản lớn đang kinh doanh tại Việt Nam đã chỉ ra những cách tiếp cận và xử lý đồng vốn qua những bài học thực tế.

Cuộc hội thảo lần thứ 9 do Liên đoàn Hiệp hội quản lý Nhật bản (JMA Group) và VCCI tổ chức hôm 3-7 tại Hà Nội với mục đích giúp nâng cao nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về cơ hội hợp tác, liên kết với doanh nghiệp Nhật Bản có lẽ là chủ đề lớn và còn bàn thảo dài.

Nhưng bài học kinh nghiệm ngay trước mắt mà nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam nói rằng nhận được từ các nhà sản xuất tên tuổi của Nhật Bản tại thị trường Việt Nam thông qua cách tiếp cận và sử dụng đồng vốn một cách hiệu quả nhất, đặc biệt trong những lúc gặp khó khăn.

Tìm vốn từ địa bàn sản xuất

Kinh nghiệm đầu tiên mà ông Shoichi Namie, Tổng giám đốc Công ty Acecook Việt Nam tiết lộ là Acecook đã tận dụng nguồn vốn từ địa phương như thế nào.

Ông dẫn ra câu chuyện từ những ngày đầu Acecook đặt chân vào Việt Nam, năm 1993. Công ty đã phải trải qua giai đoạn khởi nghiệp rất gian khổ vì theo tiêu chí kinh doanh của công ty mẹ tại Nhật Bản, họ không được sự trợ giúp về vốn mà phải tự xoay xở lấy ở địa bàn mới.

Khoảng những năm 1995, khi Acecook (lúc đó còn gọi là liên doanh Vifon Acecook vì Vifon chiếm 40% cổ phần) quyết định đầu tư sản xuất sản phẩm mì ăn liền mới mang tên Hảo Hảo. Sản phẩm mới ra đời ban đầu không đáp ứng được yêu cầu thị trường, việc kinh doanh rất khó khăn vì không có vốn. Các ngân hàng Nhật Bản và Việt Nam đều từ chối việc cho vay vốn nếu không có bảo lãnh từ công ty mẹ của Acecook tại Nhật Bản.

Xem tiếp…


Tỷ phú Ấn Độ tham gia điều hành Goldman Sachs

Tháng Bảy 1, 2008

(Dân trí) – “Vua thép” Ấn Độ, Lakshmi Mittal, đã chính thức tham gia ban giám đốc điều hành Goldman Sachs, một trong những tập đoàn tài chính hùng mạnh nhất Phố Wall (Mỹ), trong vai trò một giám đốc bộ phận.

Sau nhiều năm làm khách hàng lớn của Goldman Sachs, cuối cùng tỷ phú Ấn Độ Lakshmi Mittal đã trở thành vị giám đốc bộ phận thứ 10 trong ban giám đốc điều hành gồm 13 thành viên của tập đoàn này.

“Kinh nghiệm và tư duy độc lập của ông Lakshmi là một sự bổ sung quan trọng cho ban giám đốc của chúng tôi, và sẽ có giá trị lớn đối với đội ngũ nhân viên, các nhà đầu tư và khách hàng của chúng tôi,” ông Lloyd Blankfein, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Goldman Sachs nói.

 

Goldman Sachs và các ngân hàng đầu tư lớn khác đang đẩy mạnh đầu tư vào Ấn Độ để kiếm lợi từ nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ này. Trong nửa đầu năm nay, Ấn Độ chỉ đứng sau Trung Quốc về tốc độ tăng trưởng trên thế giới.

 

Trong khi đó, theo số liệu của Thomson Reuters, tập đoàn Goldman là nhà tư vấn tài chính lớn thứ hai ở châu Á, lục địa có Ấn Độ, trong nửa đầu năm nay, chỉ sau UBS.

 

Mối quan hệ giữa tỷ phú Mittal và Goldman Sachs bắt đầu từ năm 2006, khi “ông vua thép” Ấn Độ tìm kiếm sự tư vấn của Goldman về việc mua lại Arcelor, một đối thủ ở châu Âu trong lĩnh vực thép, với giá 33,5 tỷ USD để hợp nhất thành nhà sản xuất thép lớn nhất thế giới ArcelorMittal.

 

Ban giám đốc điều hành Goldman hiện có những nhân vật đình đám trong giới kinh doanh và đầu tư, như Rajat Gupta – cựu giám đốc công ty tư vấn McKinsey; John Bryan – người từng điều hành tập đoàn kinh doanh hàng tiêu dùng Sara Lee; Lois Juliber – cựu phó chủ tịch Colgate-Palmolive; Edward Liddy – một đối tác của công ty đầu tư Clayton, Dubilier & Rice; và Stephen Friedman – nguyên cố vấn kinh tế chính của tổng thống Mỹ.

 

Theo xếp hạng của tờ The Sunday Times of London, tỷ phú Mittal là người giàu nhất Anh quốc trong suốt 4 năm liền. Ông sinh ra tại Ấn Độ nhưng đã cùng gia đình nhập tịch Anh từ lâu và hiện có nhiều đất đai, tài sản ở đây.

 

Ông thành lập công ty thép Mittal vào năm 1976, rồi từng bước thông qua các cuộc mua bán sáp nhập đã biến nó thành một tập đoàn thép lớn nhất thế giới, ArcelorMittal, chiếm khoảng 10% sản lượng thép thế giới. Mittal cùng gia đình đang sở hữu hơn 43% cổ phần trong ArcelorMittal.

 

Mittal đồng thời cũng là giám đốc của EADS – công ty mẹ của hãng chế tạo máy bay Airbus, và của ngân hàng tư nhân lớn nhất Ấn Độ – ICICI.

 

Đặng Lê

Theo IHT