Những quy định “bất khả thi”

Tháng Một 25, 2010

(TBKTSG) – Xét về nguyên tắc, các văn bản quản lý về hoạt động xuất nhập khẩu phải phù hợp với tình hình thực tế khách quan và không gây ách tắc cho sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế đã phát sinh không ít trường hợp ngược lại. Bài viết này dẫn ra vài trường hợp để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn tình trạng bất cập nói trên.

1.Thông tư 116/2008/TT-BTC ngày 4-12-2008 của Bộ Tài chính quy định: doanh nghiệp gia công phải đăng ký số lượng nguyên phụ liệu và định mức nguyên phụ liệu tại thời điểm đăng ký hợp đồng gia công (điểm I và II).

Cũng không quá khó để có thể nhận ra rằng khi đã xác định được số lượng chủng loại nguyên phụ liệu của hợp đồng gia công thì quá trình theo dõi nguyên liệu gia công nhập khẩu chỉ là một phép tính trừ lùi đơn giản. Cùng với việc xác định nguyên liệu gia công nhập khẩu, việc xác định được định mức sử dụng nguyên phụ liệu ngay từ đầu sẽ giúp người quản lý xác định ngay được số lượng sản phẩm gia công xuất khẩu. Quy định này rõ ràng rất thuận lợi cho công việc của cơ quan quản lý, đặc biệt là các cơ quan tài chính, hải quan.

Tuy nhiên với các doanh nghiệp, tình hình lại hoàn toàn khác. Hợp đồng gia công chỉ ghi nhận các nội dung có tính nguyên tắc chẳng hạn như: số lượng sản phẩm gia công, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán, thời gian hiệu lực của hợp đồng…

Trên thực tế hợp đồng chỉ được sử dụng trong các trường hợp có phát sinh tranh chấp, khiếu kiện… Phụ lục hợp đồng (Annex) mới chính là văn bản ghi nhận số lượng mặt hàng cụ thể và được coi là cơ sở trực tiếp để xác định số lượng chủng loại nguyên phụ liệu và định mức.

Đọc tiếp »


Phần mềm kế toán: “Đất” của hàng nội

Tháng Mười Hai 10, 2009

(TBVTSG) – Không giống các mảng thị trường khác, thị trường phần mềm kế toán được coi là “lãnh địa” của sản phẩm trong nước. Theo thống kê chưa đầy đủ của giới chuyên gia, phần mềm trong nước chiếm tới 80% tại thị trường này.

Thị trường phần mềm kế toán hiện đang có hơn 60 sản phẩm lớn nhỏ khác nhau của 30 nhà cung cấp như Fast, 1-V, Misa, Bravo, Metadata, ANSI, BORO…và phần lớn trong đó là các sản phẩm trong nước. Do yêu cầu đặt ra đối với phần mềm kế toán thường là phải mang tính đặc thù, ví dụ như tính đáp ứng chuẩn mực, quy định của nhà nước và phù hợp với nền kế toán Việt Nam, nên phần mềm nội địa chiếm đa số bởi nhà sản xuất trong nước am hiểu về thị trường hơn. Bên cạnh đó, phần mềm trong nước được bán với giá thấp nên sản phẩm ngoại nhập khó cạnh tranh.

Bài toán cạnh tranh

Tại lễ trao giải thưởng giải pháp công nghệ thông tin 2009 do tạp chí PC World Vietnam vừa tổ chức mới đây, phần mềm Fast Accounting và Misa SME được ghi nhận là hai giải pháp kế toán doanh nghiệp được nhiều người bình chọn.

Đọc tiếp »


Cổ phiếu thưởng: Lấy của mình thưởng cho… mình

Tháng Mười Một 4, 2009

Sau một thời gian dài trầm lắng, làn sóng chia cổ phiếu thưởng lại xuất hiện trên thị trường chứng khoán. Nhiều nhà đầu tư – dù trước đó đã thua lỗ đến sạt nghiệp – vẫn đua theo trào lưu và quên luôn bài học “vỡ lòng” về đầu tư đó.

cpthuong

Trong giai đoạn thị trường khởi sắc, thông tin chia thưởng cổ phiếu được xem như một lực đỡ quan trọng cho giá chứng khoán tăng hàng ngày – Ảnh: Quang Liên.

Các doanh nghiệp khi chọn hình thức chia thưởng cổ phiếu có muôn vàn lý do. Có doanh nghiệp chia thưởng trong năm 2009 nhằm hỗ trợ cổ đông không phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Nhưng cũng có những doanh nghiệp chọn hình thức này để tăng vốn điều lệ, từ đó tăng năng lực tài chính và có cơ hội tiếp cận khoản vay lớn hơn để thực hiện các dự án lớn…

Còn về phía thị trường, nhất là trong giai đoạn thị trường khởi sắc, thông tin chia thưởng cổ phiếu được xem như một lực đỡ quan trọng cho giá chứng khoán tăng hàng ngày.

Đối với những cổ phiếu có thị giá cao, việc chia tách sẽ gia tăng tính thanh khoản do giá cổ phiếu đã được điều chỉnh giảm theo tỷ lệ chia thưởng. Những nhà đầu tư ít vốn sẽ có cơ hội đầu tư khi có cảm giác cổ phiếu đã rẻ đi. Việc cho phép nhiều nhà đầu tư có mức tiền vừa phải sẽ tham gia nhiều hơn, làm tăng cầu chứng khoán và khi cầu chứng khoán tăng sẽ tác động làm tăng giá chứng khoán.

Đọc tiếp »


Doanh nghiệp “lách luật” trả lương

Tháng Mười Một 4, 2009

Hiện tượng “lách luật” trong chính sách tiền lương đang diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận doanh nghiệp

Làm thế nào để có một chính sách tiền lương vừa có lợi cho doanh nghiệp mà vẫn được lòng lao động? Làm thế nào để có thể “lách luật” trong trả lương cho lao động mà không phạm luật…?

tienluong

Chênh lệch giữa lương thực lĩnh và lương trên giấy đôi khi khá lớn.

Đó là những câu hỏi mà doanh nghiệp quan tâm tại phiên thảo luận về tiền lương và chế độ đãi ngộ, một trong bảy phiên thảo luận tại Ngày Nhân sự Việt Nam (HR Day 2009).

Nhận lương 5 triệu, ký 2 triệu

Chị Nguyễn Thị H, quản lý nhân sự tại công ty A cho biết, công ty chị đã áp dụng cách trả lương cho lao động rất “hợp lý” và “hợp tình” như sau: anh B được doanh nghiệp trả lương cơ bản là 2 triệu đồng nhưng lương thực lĩnh của anh là 5 triệu đồng. 2 triệu đồng được anh B ký ở mục lương cơ bản để đóng bảo hiểm xã hội, 3 triệu đồng còn lại anh ký nhận ở mục phụ cấp. Như vậy, khoảng cách giữa lương thực lĩnh và lương trên giấy của anh chênh nhau khá lớn.

Đọc tiếp »


Phía sau hiệu ứng vượt kế hoạch lợi nhuận

Tháng Mười 6, 2009

Sau 3 quý, nhiều doanh nghiệp đã vượt xa kế hoạch lợi nhuận cả năm. Phía sau kết quả đó là những điểm cần lưu ý.

Mới chỉ kết thúc tháng 9 vài ngày, một loạt doanh nghiệp niêm yết đã công bố kết quả kinh doanh cập nhật cả 3 quý đầu năm. Có thể thấy những doanh nghiệp đã công bố “đương nhiên” có những con số vượt trội.

hieuungloinhuan

Nhưng còn quá sớm để khẳng định một xu thế lạc quan chung. Nhưng cũng đủ để thấy có những điểm chung nổi bật trong một năm nhiều biến động.

Hiệu ứng vượt xa kế hoạch

Không chờ đến hết quý 3, ngay từ đầu tháng 8 một loạt doanh nghiệp trên sàn niêm yết đã rục rịch tổ chức lấy ý kiến cổ đông để điều chỉnh kế hoạch kinh doanh. Nguyên do, thực tế đạt được vượt quá xa với dự tính đặt ra từ đầu năm.

Đến ngày 5/9, trong số những trường hợp đã công bố thông tin ban đầu, Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng (DRC, sàn HOSE) đang giữ kỷ lục về sự vượt trội đó. 9 tháng đầu năm, lợi nhuận của công ty này ước lên tới 280 tỷ đồng, tương đương 538,46% kế hoạch. Điều này cũng lý giải vì sao giá cổ phiếu DRC có chặng tốc hành thuộc nhóm nóng nhất trên sàn tháng qua.

Đọc tiếp »


Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán

Tháng Sáu 10, 2008

“Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam” áp dụng cho tất cả người làm kế toán, người làm kiểm toán và công ty kế toán, kiểm toán.

…download file tại đây: chuanmucdaoducketoankiemtoan


Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Tháng Sáu 10, 2008

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 1

1. Chuẩn mực số 200: Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính;
2. Chuẩn mực số 210: Hợp đồng kiểm toán;
3. Chuẩn mực số 230: Hồ sơ kiểm toán;
4. Chuẩn mực số 700: Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính.

…download file tại đây: chuanmuckiemtoan_dot1

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 2

1. Chuẩn mực số 250 – Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các qui định trong kiểm toán báo cáo tài chính;
2. Chuẩn mực số 310 – Hiểu biết về tình hình kinh doanh;
3. Chuẩn mực số 500 – Bằng chứng kiểm toán;
4. Chuẩn mực số 510 – Kiểm toán năm đầu tiên – Số dư đầu năm tài chính;
5. Chuẩn mực số 520 – Quy trình phân tích;
6. Chuẩn mực số 580 – Giải trình của Giám đốc.

…download file tại đây: chuanmuckiemtoan_dot2

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 3

1. Chuẩn mực số 240 – Gian lận và sai sót;
2. Chuẩn mực số 300 – Lập kế hoạch kiểm toán;
3. Chuẩn mực số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ;
4. Chuẩn mực số 530 – Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác;
5. Chuẩn mực số 540 – Kiểm toán các ước tính kế toán;
6. Chuẩn mực số 610 – Sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ.

…download file tại đây: chuanmuckiemtoan_dot3

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 4

1. Chuẩn mực số 220 – Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán;
2. Chuẩn mực số 320 – Tính trọng yếu trong kiểm toán;
3. Chuẩn mực số 501 – Bằng chứng kiểm toán bổ sung đối với các khoản mục và sự kiện đặc biệt;
4. Chuẩn mực số 560 – Các sự kiện phát sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập báo cáo tài chính;
5. Chuẩn mực số 600 – Sử dụng t liệu của kiểm toán viên khác.
…download file tại đây: chuanmuckiemtoan_dot4

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 5

1. Chuẩn mực số 401 – Thực hiện kiểm toán trong môi trường tin học;
2. Chuẩn mực số 550 – Các bên liên quan;
3. Chuẩn mực số 570 – Hoạt động liên tục;
4. Chuẩn mực số 800 – Báo cáo kiểm toán về những công việc kiểm toán đặc biệt ;
5. Chuẩn mực số 910 – Công tác soát xét báo cáo tài chính;
6. Chuẩn mực số 920 – Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thoả thuận trước.
…download file tại đây: chuanmuckiemtoan_dot5

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 6

1. Chuẩn mực 402 – Các yếu tố cần xem xét khi kiểm toán đơn vị có sử dụng dịch vụ bên ngoài
2. Chuẩn mực 620 – Sử dụng tư liệu của chuyên gia
3. Chuẩn mực 710 – Thông tin có tính so sánh
4. Chuẩn mực 720 – Những thông tin khác trong tài liệu có báo cáo tài chính đã kiểm toán
5. Chuẩn mực 930 – Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính
6. Chuẩn mực 1000 – Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành.
…download file tại đây: chuanmuckiemtoan_dot6

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 7

1. Chuẩn mực 260 – Trao đổi các vấn đề quan trọng phát sinh khi kiểm toán với Ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán;
2. Chuẩn mực 330 – Thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro;
3. Chuẩn mực 505 – Thông tin xác nhận từ bên ngoài;
4. Chuẩn mực 545 – Kiểm toán việc xác định và trình bày giá trị hợp lý.

…download file tại đây: chuanmuckiemtoan_dot7


Tóm Tắt Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế

Tháng Sáu 10, 2008

Bảng tóm tắt các chuẩn mực kế toán quốc tế do Deloitte soạn.

…download file tại đây: chuanmucketoanquocte_deloitte


Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Tháng Sáu 10, 2008

Chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 1

1 – Chuẩn mực số 02 – Hàng tồn kho;
2 – Chuẩn mực số 03 – Tài sản cố định hữu hình;
3 – Chuẩn mực số 04 – Tài sản cố định vô hình;
4 – Chuẩn mực số 14 – Doanh thu và thu nhập khác.

…download file tại đây: chuanmucketoan-dot1

Chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 2

- Chuẩn mực số 01 – Chuẩn mực chung;
- Chuẩn mực số 06 – Thuê tài sản;
- Chuẩn mực số 10 – ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái;
- Chuẩn mực số 15 – Hợp đồng xây dựng;
- Chuẩn mực số 16 – Chi phí đi vay;
- Chuẩn mực số 24 – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

…download file tại đây: chuanmucketoan-dot2

Chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 3

1- Chuẩn mực số 05- Bất động sản đầu tư;
2- Chuẩn mực số 07- Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết;
3- Chuẩn mực số 08- Thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh;
4- Chuẩn mực số 21- Trình bày báo cáo tài chính;
5- Chuẩn mực số 25- Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con;
6- Chuẩn mực số 26- Thông tin về các bên liên quan.

…download file tại đây: chuanmucketoan-dot3

Chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 4

1- Chuẩn mực số 17 – Thuế thu nhập doanh nghiệp;
2- Chuẩn mực số 22 – Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự;
3- Chuẩn mực số 23 – Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm;
4- Chuẩn mực số 27 – Báo cáo tài chính giữa niên độ;
5- Chuẩn mực số 28 – Báo cáo bộ phận;
6- Chuẩn mực số 29 – Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót.

…download file tại đây: chuanmucketoan-dot4

Chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 5 

- Chuẩn mực số 11 – “Hợp nhất kinh doanh”;
- Chuẩn mực số 18 – “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”;
- Chuẩn mực số 19 – “Hợp đồng bảo hiểm”;
- Chuẩn mực số 30 – “Lãi trên cổ phiếu”.

…download file tại đây: chuanmucketoan-dot5


Quyết Định 15 – Bộ Tài Chính

Tháng Năm 30, 2008

Bạn có thể download Quyết Định 15 – Bộ Tài Chính tại đây: quyet-dinh-15-btc


Báo cáo tài chính có thật sự cần thiết?

Tháng Năm 29, 2008

Các công ty và tập đoàn vẫn thường xem việc công khai báo cáo tài chính như một hình thức thông tin tốt và là một yếu tố quan trọng nhằm củng cố mối quan hệ với các nhà đầu tư và chuyên gia phân tích tài chính. Việc các công ty đưa ra những lợi ích như sẽ đảm bảo bình ổn giá cả, nâng cao giá trị kinh tế và thu hút thêm các nhà đầu tư… được các chuyên gia đánh giá là không chính xác và chỉ thể hiện được những mục tiêu trước mắt, mà chưa cung cấp được những dữ liệu kinh doanh cơ bản mang tính chiến lược lâu dài.

Những ngộ nhận trong việc phát hành báo cáo tài chính

Các công ty và tập đoàn bắt đầu phát hành công khai các bản báo cáo tài chính từ cuối những năm 1990, nhưng đến nay, thói quen này đang có xu hương giảm dần. Theo khảo sát của các chuyên gia tiến hành trên 4000 công ty và tập đoàn tại Mỹ, từ năm 1994 đến 2004 có khoảng 1600 công ty đã thực hiện báo cáo tài chính hàng năm hoặc hàng quý. So với con số ban đầu là 92 công ty, thì cho đến năm 2001 đã có khoảng 1200 công ty thường xuyên công khai báo cáo với giới đầu tư và phân tích tài chính. Có khoảng 220 công ty tạm ngưng hoặc dừng hẳn công việc này, tính cho đến năm 2004.

Những công ty và tập đoàn thường xuyên cung cấp và phát hành các báo cáo tài chính cho rằng có hai lợi ích cơ bản là (1) việc này mang lại các giá trị kinh tế cao và (2) giúp giảm thiểu tính bất ổn của giá cổ phiếu. Tuy nhiên, các chuyên gia đã khẳng định rằng đây chỉ là sự ngộ nhận. Lý do;

Về các giá trị kinh tế: Khác với hi vọng của những công ty và tập đoàn này, thị trường hầu như không có phản ứng nào đáng kể trước việc họ phát hành công khai bản báo cáo tài chính. Chẳng hạn như khi so sánh tỉ lệ lãi cổ tức giữa các công ty có cung cấp báo cáo với những công ty không thực hiện công việc này trong cùng một năm, thì sự chênh lệch hầu như không có.

Về tính bình ổn của giá cả: Cứ 44 công ty và tập đoàn được điều tra, thì có 21 công ty nhận thấy họ có được giá cả ổn định hơn, trong khi đó con số các công ty giảm sút tính bình ổn giá là 23. Sự chênh lệch của tỉ lệ lãi cổ tức giữa các công ty thực hiện và không thực hiện việc cung cấp báo cáo doanh thu cũng không đáng kể.

Những tác dụng ngược

Các chuyên gia phân tích tài chính và các nhà đầu tư cho rằng việc cung cấp công khai báo cáo về tình hình kinh doanh có thể khiến các công ty và tập đoàn phải gánh chịu những tổn thất nhất định mà họ không thể lường trước được. Trước hết, họ sẽ phải đối mặt với những khó khăn trong việc dự đoán chính xác con số doanh thu, dẫn đến việc báo cáo sai. Hơn nữa, khi nhìn vào những con số trong báo cáo, các nhà quản lý chỉ nhận biết và tập trung vào những mục tiêu mang tính ngắn hạn mà bỏ qua các chiến lược lâu dài. Và nghiêm trọng nhất là khi các giám đốc điều hành và giám đốc tài chính lâm vào tình trạng ngộ nhận, hoặc tự xây dựng nên tính ổn định “ảo” của công ty mình.

Việc tập trung xây dựng, điều tra, phát hành báo cáo tài chình hàng tháng hoặc hàng quý cũng rất tốn kém về thời gian, tiền bạc và công sức con người. Chẳng hạn như, các nhà quản lý và nhân viên thực hiện báo cáo sẽ mất khá nhiều thời gian để thực hiện báo cáo. Việc phát hành cũng cần đến một số kinh phí không nhỏ.

Liệu việc không phát hành báo cáo tài chính có dẫn đến nguy cơ gì không?

Tất nhiên là việc không cung cấp các báo cáo tài chính, hoặc báo cáo không minh bạch, cũng có thể khiến các công ty và tập đoàn phải đối mặt với một số khó khăn. Điển hình là trường hợp của Google, vào tháng 1 năm nay, giá trị cổ phiếu của tập đoàn này đã đột ngột giảm 7% ngay sau khi họ thông báo các kết quả kinh doanh trong quý 4 năm ngoái. Lý do mà các chuyên gia đưa ra là Google đã có những dự đoán chính xác trong báo cáo của mình về quý tiếp theo. Điều đó khiến các nhà đầu tư không kiểm soát được tình hình hoạt động của tập đoàn này.

Một số tập đoàn và công ty cũng tuyên bố sẽ cắt bỏ việc phát hành báo cáo tài chính hàng quý, mà thay vào đó sẽ chỉ cung cấp những báo cáo hàng năm. Thậm chí, có doanh nghiệp còn tuyên bố huỷ bỏ hoàn toàn công việc này, để tiến tới việc sẽ cung cấp cho nhà đầu tư và các chuyên gia những số liệu và hướng dẫn mang tính lâu dài, nhấn mạnh nhiều hơn vào những điều kiện, tình hình kinh doanh của họ. Chỉ riêng trong tháng 1 năm nay, Motorola, Citygroup và Intel đã tuyên bố ngừng việc cung cấp báo cáo tài chính giữa quý và hàng quý, bởi nó “không phù hợp với sự phát triển kinh doanh về lâu dài” của  họ.

Tuy nhiên, vẫn có 83% các tập đoàn và công ty trong cuộc điều tra vẫn lưỡng lự trong việc ngừng hẳn công việc cung cấp, phát hành báo cáo tài chính của họ. Lý do là các giám đốc điều hành e ngại rằng công ty và tập đoàn của họ sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất ổn định của giá cổ phiếu, và hơn cả là việc hình ảnh của họ sẽ kém hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư và phân tích tài chính. Thế nhưng, điều tra của các chuyên gia cho thấy, trong số 126 công ty ngừng việc phát hành báo cáo tài chính, có 58 công ty đạt được chỉ số lãi cổ tức cao hơn, còn 68 công ty lại nói rằng giá trị của họ đang giảm sút. Tuy nhiên có một điều đáng lưu ý là, việc không phát hành hoặc chấm dứt cung cấp báo cáo tài chính của các công ty và tập đoàn không dẫn đến việc lợi nhuận của họ sẽ thu hẹp hay gây nên sự bất ổn của giá trị cổ phiếu, mà đây chỉ là hệ quả của sự yếu kém trong việc điều hành hoạt động kinh doanh.

Vậy thì báo cáo tài chính có thật sự cần thiết không?

Với những kết quả trên, các chuyên gia khuyên các công ty và tập đoàn hãy lựa chọn cách thức khôn khéo hơn trong việc cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư và giới phân tích tài chính. Để mọi người có cái nhìn lạc quan và thấu hiểu hơn về thực trạng kinh doanh cũng như triển vọng lâu dài của mình, các công ty và tập đoàn nên cung cấp, gợi mở những thông báo về mảng kinh doanh chủ yếu, môi trường và xu thế trong tương lai, cũng như chiến lược phát triển.

Chẳng hạn như các doanh nghiệp bán lẻ có thể cung cấp và nhấn mạnh các nhân tố quan trọng trong việc tăng trưởng lợi nhuận như các chỉ số như: mức tăng trưởng sản phẩm bán ra, giá cả, chi phí tiếp thị, điều kiện, môi trường kinh doanh, chi phí đầu vào, chi phí bán hàng, chi phí hợp tác (nếu có), bên cạnh đó là các dữ liệu về vốn như số vốn, thời gian đầu tư, sơ đồ phân phối vốn kinh doanh và hiệu quả của việc sử dụng vốn… Đừng quên giải thích rõ ràng về tính hiệu quả và sự thay đổi có thể xảy ra trong tương lai để các nhà đầu tư cũng như giới phân tích có thể nắm bắt và dự đoán rõ ràng hơn thực trạng và tiềm năng của các công ty để có kế hoạch đầu tư lâu dài.

Như vậy, ngày càng có nhiều công ty và tập đoàn hủy bỏ việc phát hành báo cáo tài chính cho các nhà đầu tư và giới phân tích tài chính, mà thay vào đó, họ cung cấp những dữ liệu và thông tin hiệu quả hơn, mang tính chiến lược và chứa đựng những thông tin kinh doanh thiết yếu. Bằng cách đó, họ vẫn có thể thu hút sự chú ý của đối tác và các nhà đầu tư một cách thuyết phục.

(Dịch từ The McKinsey Quarterly)


Biased Expectations: Can Accounting Tools Lead to, Rather than Prevent, Executive Mistakes?

Tháng Năm 29, 2008

Accounting techniques like budgeting, sales projections and financial reporting are supposed to help prevent business failures by giving managers realistic plans to guide their actions and feedback on their progress. In other words, they are supposed to leaven entrepreneurial optimism with green-eye-shaded realism.

At least that’s the theory. But when Gavin Cassar, a Wharton accounting professor, tested this idea, he found something troubling: Some accounting tools not only fail to help businesspeople, but may actually lead them astray. In one of his recent studies, forthcoming in Contemporary Accounting Research, Cassar showed that budgeting didn’t help a group of Australian firms accurately forecast their revenues. In a second paper,he found that the preparation of financial projections added to aspiring entrepreneurs’ optimism, leading them to overestimate their subsequent levels of sales and employment. 

“It’s been shown in many studies that people are overly optimistic,” Cassar says. “What’s interesting here is that, when you use the accounting tools, the optimism is even more extreme. This suggests that using the tools, which a lot of academics and government agencies say is good practice, can lead to even bigger mistakes.”

He is not suggesting that anyone ignore accounting activities and techniques. Investors and regulators expect firms to implement robust accounting systems. And they should, he says, because financial reports provide a detailed map of a business and its performance. But Cassar believes that businesspeople — especially entrepreneurs, who bet both their reputations and personal wealth on their ventures — should understand the limitations of accounting estimates as well as how common human tendencies, like optimism, can lead to their misinterpretation.

Cassar’s first study, titled “Budgets, Financial Reports and Manager Forecast Accuracy,” set out to the test the usefulness of some basic tools in the accounting kit. It sprang from his work experience before he attended graduate school, when, as an accountant for a builder in his native Australia, he watched the company’s gradual decline into bankruptcy. “My first job was as a financial and managerial accountant for a civil construction firm,” he says. “My second, 18 months later, was working for the [bankruptcy] receiver of that same company.”

On review, the firm’s accountants had seemed to do everything right. They had prepared budgets and put systems in place to get timely performance reports that could then be factored into the company’s future budgets and plans. As two big highway jobs foundered, the losses showed up promptly in the monthly reports. Even so, company executives failed to take remedial action. “The project managers said that the losses would turn around, but they didn’t,” Cassar says. “On both those jobs, they went over budgeted costs by 50%. Those two jobs resulted in the demise of that company.”

But it wasn’t the accounting systems that were the problem. It was the users. “No one would take responsibility because the cost of doing that was losing your job,” Cassar says. “The irony is that, in the end, everyone lost their jobs.”

Cassar’s study enabled him to assess whether budgeting and internal reporting have helped other firms more than they did his former employer. He examined a group of about 4,000 companies, all with less than 200 employees, surveyed by the Australian Bureau of Statistics. Managers of these firms were asked whether they prepared budgets and internal reports and also were asked to provide revenue forecasts and in future years were asked to provide subsequent performance. The agency followed the firms over four years. Thus its data showed how close they came to meeting their forecasts.

Cassar suspected that doing either budgets or internal reports — or, better yet, both — might improve a company’s forecasts. “The presence in a firm of a budget preparation activity should result in improved forecast accuracy because the systematic collection of a broad range of information should allow for a more accurate assessment of future performance,” write Cassar and his co-author, Brian Gibson, an accounting professor at Australia’s University of New England. “However, budgeting in itself may not improve forecasting accuracy, because budgeting without internal reporting is a meaningless formal control system.”

When Cassar and Gibson crunched the numbers, their prediction was borne out: The impact of budgeting alone was trivial, improving forecast accuracy by less than 2%. But internal reporting made a real difference, improving accuracy by about 8.5%. And used together, the two techniques improved forecast accuracy even more, by about 12%. “Collectively these results suggest that internal accounting report preparation improves forecast accuracy. In addition, although the accuracy benefits from budget preparation appear limited, the improvement is greater when both budget preparation and internal account reporting are used,” Cassar and Gibson write.

What’s more, the firms that saw the most improvement in their forecasts were ones that operated in the most uncertain environments, as measured by the variability of revenue. Arguably, these firms most needed the guidance.  

Cassar’s second study, titled “Are Individuals Entering Self-Employment Overly-Optimistic? An Empirical Test of Plans and Projections on Nascent Entrepreneur Expectations,” built on the findings of his first one. Here, he wasn’t interested in whether accounting tools merely helped entrepreneurs; he wanted to know whether they could distort their thinking.

His curiosity grew partly from his knowledge of the field of behavioral economics, which marries the insights and methods of psychology and economics. Behavioralists have documented a number of mental shortcuts and biases that can lead people to depart from the logic that traditional economic orthodoxy would suggest. One of the concepts, for example, introduced by Nobel Laureate Daniel Kahneman and co-author Dan Lovallo, is that “an inside view” can distort decision making. A person who adopts an inside view becomes so focused on formulating his particular plan that he neglects to consider critical outside information, like other people’s experiences in pursuing the same goal.

“Individuals form an inside view forecast by focusing on the specifics of the case, the details of the plan that exists and obstacles to its completion, and by constructing scenarios of future progress,” Cassar summarizes. “In contrast, an outside view is statistical and comparative in nature and does not involve any attempt to divine the future at any level of detail.”

Doing financial projections for an entrepreneurial venture, Cassar realized, entails the creation of an inside view. The entrepreneur builds a storyline of success in her head and then plays it out in her spreadsheet, showing rising sales year after year. “Humans are good at storytelling and building causal links,” Cassar notes. “They think, ‘I’ll go to college, I’ll write a business plan, I’ll raise some capital and then I’ll go public or sell out to a big competitor.’ There’s a probability attached to each of these steps, but they don’t think about that. They put all the links together and evaluate the likelihood of success at a much higher probability than is realistic.”

Consider the approximately 400 aspiring U.S. entrepreneurs whom Cassar studied. On average, they believed that their ideas had about an 80% likelihood of becoming viable ventures, though only half actually ended up becoming businesses. Of the entrepreneurs who realized their plans, about 62% overestimated their first-year sales, and about 46% overestimated what their employment would be at the end of year one. Employment, unlike sales, implies both costs and benefits, perhaps explaining the lower jobs figure, Cassar notes. As a company grows it needs more employees, but it also has to pay them.

So far, none of this seems radical. Yes, entrepreneurs are optimistic. They have to be if they are undertaking the risks of starting a business. But when Cassar started to sort through the entrepreneurs’ use of common accounting and planning techniques, he uncovered surprises.

People who did financial projections were the most likely to overestimate the future sales of their ventures. In other words, “the same management activities that entrepreneurs rely on to cope with uncertainty appear to be causing individuals to hold optimistic expectations,” he writes. Interestingly, writing a business plan also led to optimism about the likelihood of success, but it didn’t lead to overly optimistic expectations because it’s also “positively associated with the likelihood that the nascent activity will become an operating venture,” he adds. Put another way, people who write plans are more likely to start companies, thereby justifying their optimism.

One group turned out to be more realistic than the others — entrepreneurs who had received money from real sales. “This demonstrates the benefit of actually making sales in improving the rationality of financial sales expectations,” Cassar notes.

Despite his findings, Cassar doesn’t believe that aspiring entrepreneurs should abandon financial projections. For one thing, investors, particularly venture capitalists, wouldn’t allow that; they expect firms in which they invest to do projections, if only because it demonstrates a command of the basics of budgets and accounting. For another, Cassar believes that preparing projections helps entrepreneurs understand the drivers of profitability in their businesses and the dynamics of their industries.

But he says that entrepreneurs need to understand the ways in which accounting tools may subvert their thinking. “Acknowledging how management practices bias expectations may allow decision makers to use organizational or decision making controls to reduce this influence,” he writes. “For example, generating reasons why the planned outcome may not be achieved or consciously relating past experiences to the forecasting task at hand are approaches individuals can take to reduce overly optimistic or overconfident forecasts.”

Cassar hasn’t studied them, but he suspects that venture capitalists might be better than entrepreneurs at viewing financial projections with the appropriate skepticism. Because they see hundreds, even thousands, of business plans a year, they tend to take an outside view.

“Very good VCs are good at picking winners because they know what the risks are,” he says. “A lot of VCs, when they go through business plans, think, ‘What are the drivers of value creation and what’s the scope of their upsides? And what are the fundamental threats that the entrepreneur isn’t focusing on because it’s not in his interest to do so?’”

Based on his own experience, Cassar sees “many benefits from managers and entrepreneurs using accounting techniques.” However, he adds, “it is important to recognize that financial projections of success are merely projections based on beliefs, which are sometimes based on overconfident or optimistic assumptions. Using these accounting tools may actually exacerbate, rather than dampen, these tendencies.”


Lựa chọn phần mềm kế toán nào đây?

Tháng Tư 30, 2008

fin003.gif

Trên thị trường luôn có rất nhiều phần mềm kế toán khác nhau để bạn lựa chọn. Thế nhưng bạn lại băn khoăn không biết phần mềm nào sẽ thích hợp nhất với công ty. Câu trả lời phụ thuộc vào nhu cầu kinh doanh của bạn.

Các phần mềm kế toán luôn là công cụ hiệu quả nhất để kiểm soát và duy trì hoạt động cho “bộ não tài chính” của công ty, bởi chúng được sử dụng để phục vụ các nhu cầu quản lý kế toán như báo cáo công nợ khách hàng chi tiết và chính xác, báo cáo số lượng hàng hóa nhập – xuất – tồn kho, liệt kê danh sách khách hàng và các mối quan hệ với công ty…

Có hai loại chính của phần mềm kế toán là Phần mềm chung và Phần mềm chuyên biệt cho từng ngành. Những phần mềm kế toán được thiết kế chuyên biệt cho từng ngành, từng lĩnh vực kinh doanh sẽ cung cấp nhiều đặc điểm, tính năng cụ thể hơn, song mức giá sẽ cao hơn nhiều, chưa kể dịch vụ trợ giúp sau bán hàng cũng sẽ khó khăn hơn. Những phần mềm kế toán chung thường là lựa chọn tốt nhất đối với các chủ doanh nghiệp, bởi vì họ có thể tiết kiệm đáng kể chi phí đầu vào khi gói dịch vụ thường rẻ hơn, dễ sử dụng và dịch vụ hậu mãi cũng đa dạng hơn.

Muốn lựa chọn gói phần mềm kế toán phù hợp nhất với hoạt động kinh doanh của mình, bạn nên quan tâm tới 7 yếu tố sau đây:

1. Quy mô kinh doanh. Một công ty có doanh số bán hàng 50.000 USD/năm sẽ có những nhu cầu hoàn toàn khác so với công ty có doanh thu nhiều triệu USD. Nếu chỉ là một công ty quy mô nhỏ, bạn đừng đổ quá nhiều tiền để mua một phần mềm kế toán hiện đại, có nhiều tính năng đa dạng, bởi vì bạn sẽ chỉ nhận được nhiều điều phức tạp hơn nhu cầu thực tế của mình.

2. Ngành công nghiệp, lĩnh vực kinh doanh. Bạn kinh doanh trong lĩnh vực, ngành công nghiệp nào? Một vài ngành công nghiệp có những phần mềm chuyên biệt mà bạn có thể cần đến, do nó được thiết kế phù hợp với những nhu cầu cụ thể của công ty. Trong phần lớn các trường hợp, một phần mềm chuyên biệt theo ngành nghề có thể sẽ đắt hơn, nhưng các lợi ích có được sẽ bù đắp chi phí bỏ ra, vì vậy hãy chắc chắn rằng bạn đã nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi mua bất cứ phần mềm kế toán nào.

3. Các thành phần bạn cần. Bạn mong muốn những thành phần nào trong phần mềm kế toán? Một vài phần mềm rất cơ bản, có những tính năng lưu giữ, tính toán sổ sách đơn giản; trong khi có những phần mềm bao gồm thêm nhiều tính năng khác như tính toán ngân quỹ, hoá đơn, giao diện ngân hàng trực tuyến, xử lý thẻ tín dụng… Thậm chí có phần mềm còn phân tích được sự dao động giá cả và các yếu tố ảnh hưởng đến sự dao động này, từ đó giúp bạn có được cái nhìn cụ thể hơn về sự biến động của thị trường, hỗ trợ bạn ra quyết định chính xác khi cùng một mặt hàng nên mua của đối tác nào, vào thời điểm nào thích hợp.

4. Dịch vụ trợ giúp sau bán hàng. Việc mua sắm phầm mềm chỉ là bước đi đầu tiên trong một quy trình tổng thể. Điều cần lưu ý là bạn phải nhận được một dịch vụ trợ giúp sau bán hàng hiệu quả, bao gồm nhiều tư vấn chuyên môn, trợ giúp trực tuyến, trợ giúp qua điện thoại, đào tạo…

5. Các nguồn lực tài chính. Bạn có những nguồn lực tài chính nào để đầu tư cho phần mềm kế toán? Mỗi khoản đầu tư của bạn trong hoạt động kinh doanh đều cần đến sự phân tích chi phí – lợi nhuận nhất định. Khi nghiên cứu để lựa chọn phần mềm kế toán thích hợp nhất với công ty bạn, hãy cân nhắc xem phần mềm nào đem lại nhiều lợi ích tốt nhất so với số vốn đầu tư mà bạn sẵn sàng bỏ ra.

6. Những lời giới thiệu, tiến cử chuyên nghiệp. Hãy tham khảo ý kiến của các nhân viên kế toán trong công ty khi lựa chọn phần mềm kế toán, bởi vì họ là một trong những nguồn lực chính mà bạn sẽ phải trông cậy vào trong suốt thời gian cài đặt và sử dụng phần mềm đó. Hơn nữa, nhân viên kế toán của bạn nên xác nhận phần mềm kế toán bạn dự định mua là đáng tin cậy và đảm bảo việc quản lý dữ liệu tài chính được hiệu quả nhất. Điều quan trọng là nhân viên kế toán và phần mềm kế toán phải phối kết hợp hiệu quả với nhau để góp phần vào thành công chung của công ty bạn.

7. Dễ dàng sử dụng. Đây là yếu tố này thường bị các công ty bỏ qua khi lựa chọn phần mềm kế toán, nhưng đó là một trong những vấn đề quan trọng nhất để phần mềm kế toán phát huy hiệu quả tối đa. Cho dù phần mềm kế toán có nhiều đa chức năng thiết thực, hay giá thành rẻ, song nếu nó quá cồng kềnh hay khó sử dụng, thì bạn cũng không nên mua. Đừng quá nhiệt tình với việc mua sắm các gói phần mềm cung cấp thêm nhiều tính năng mà công ty bạn không thật sự cần đến, chẳng hạn như tính năng liên kết với các thiết bị hỗ trợ như thiết bị in barcode, máy scan mã vạch, máy in hoá đơn thanh toán và các báo biểu. Hãy đảm bảo rằng phần mềm bạn mua phải đơn giản, có trọng điểm và liên quan mật thiết với những nhu cầu kinh doanh của bạn. Bên cạnh đó, bạn nên tìm kiếm những phần mềm có giao diện dễ hiểu và có khả năng cập nhập khi hoạt động kinh doanh của công ty tăng trưởng.

Tổng kết

Bảy nhân tố trên phải được “thuộc lòng” khi bạn tiến hành mua sắm một phần mềm tài chính kế toán cho công ty. Hãy nhớ rằng, việc có một công cụ thích hợp trợ giúp bạn trong các hoạt động quản lý kinh doanh là rất quan trọng, đồng thời chi phí không nên được xem là nhân tố hàng đầu khi lựa chọn phần mềm kế toán.

Lời khuyên cuối cùng: Bạn sẽ nhanh chóng cảm thấy thất vọng với bất cứ phần mềm mới nào, vì vậy, hãy cẩn thận khi lựa chọn phần mềm đó và nên nhớ lại tất cả những lời khuyên ở trên để sửa chữa sai lầm. Điều đó sẽ giúp bạn có một hệ thống tài chính có tổ chức, cung cấp cho bạn những số liệu tài chính có chất lượng để thực thi một cách hiệu quả kế hoạch phát triển kinh doanh.

…download baì viết này tại đây: fin003-lua-chon-phan-mem-ke-toan-nao-day.pdf

(Dịch từ Entrepreneur)


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.