Mô Hình Phân Tích Tài Chính Dupont

Tháng Bảy 10, 2008

Mô Hình Dupont 

Mô hình Dupont là kỹ thuật có thể được sử dụng để phân tích khả năng sinh lãi của một công ty bằng các công cụ quản lý hiệu

 quả truyền thống. Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán.

 

Nguồn Gốc Mô Hình Dupont

Mô hình phân tích tài chính Dupont được phát minh bởi F.Donaldson Brown, một kỹ sư điện người đã gia nhập bộ phận tài chính của công ty hóa học khổng lồ này. Một vài năm sau đó, Dupont mua lại 23% cổ phiếu của tập đoàn General Motors . Và giao cho Brown tái cấu trúc tình hình tài chính lộn xộn của nhà sản xuất xe hơi này. Đây có lẽ là lần cải tổ trên qui mô lớn đầu tiên ở Mỹ.Theo Alfred Sloan, nguyên chủ tịch của GM, phần lớn thành công của GM về sau này có sự đóng góp không nhỏ từ hệ thống hoạch định và kiểm soát của Brown. Những thành công nối tiếp đã đưa mô hình Dupont trở nên phổ biến trong các tập đoàn lớn  tại Mỹ. Nó vẫn còn được sử dụng cực kỳ rộng rãi trong việc phân tích báo cáo tài chính đến những năm 1970.

 

Ứng Dụng Mô Hình Dupont

   . Mô hình có thể được sử dụng bởi bộ phận thu mua và bộ phận bán hàng để khảo sát hoặc giải thích kết quả của ROA.

   . So sánh với những hãng khác cùng  ngành kinh doanh

   . Phân tích những thay đổi thường xuyên theo thời gian

   . Cung cấp những kiến thức căn bản nhằm tác động đến kết quả kinh doanh của công ty

   . Cho thấy sự tác động của việc chuyên nghiệp hóa chức năng mua hàng.

 

Các Bước Trong Phương Pháp Dupont

   . Thu nhập số liệu kinh doanh ( từ bộ phận tài chính )

   . Tính toán ( sử dụng bảng tính )

   . Đưa ra kết luận

   . Nếu kết luận xem xét không chân thực , kiểm tra số liệu và tính toán lại

Thế Mạnh Của Mô Hình Dupont

   . Tính đơn giản. Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người kiến thức căn bản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty

   . Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên

   . Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng. Đôi khi điều cần làm trước tiên là  nên nhìn vào thưc trạng của công ty. Thay vì tìm cách thôn tính công ty khác nhằm tăng thêm doanh thu và hưởng lợi thế nhờ quy mô, để bù đắp khả năng sinh lợi yếu kém .

 

Hạn Chế Của Mô Hình Phân Tích Dupont

   . Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy

   . Không bao gồm chi phí vốn

   . Mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết và số liệu đầu vào.

 

Điều Kiện Áp Dụng Phương pháp Dupont

   . Số liệu kế toán đáng tin cậy.

 

…download tài liệu tham khảo tại đây: mo_-hinh_-phan_-tich_-tai_-chinh_-dupont

 

Phạm Sơn Huyền (dịch từ 12manage)


Các kỹ thuật phân tích Kế Toán Quản Trị

Tháng Sáu 29, 2008

1. Phân Tích Tình Huống/ Scenarios Analysis

2. Phân Tích Biến Động/ Variance Analysis
3. Mô Hình Hoá/ Spreadsheet Modelling
4. Phân Tích Thống Kế/ Statistical Analysis
5. Phân Tích SWOT/ SWOT Analysis

6. Cây Quyết Định/ Decision Tree
 
7. Phân Tích Dự Án Đầu Tư/ Investment Appraisal
 
8. Đánh Giá Xác Suất/ Monte Carlo

Biased Expectations: Can Accounting Tools Lead to, Rather than Prevent, Executive Mistakes?

Tháng Năm 29, 2008

Accounting techniques like budgeting, sales projections and financial reporting are supposed to help prevent business failures by giving managers realistic plans to guide their actions and feedback on their progress. In other words, they are supposed to leaven entrepreneurial optimism with green-eye-shaded realism.

At least that’s the theory. But when Gavin Cassar, a Wharton accounting professor, tested this idea, he found something troubling: Some accounting tools not only fail to help businesspeople, but may actually lead them astray. In one of his recent studies, forthcoming in Contemporary Accounting Research, Cassar showed that budgeting didn’t help a group of Australian firms accurately forecast their revenues. In a second paper,he found that the preparation of financial projections added to aspiring entrepreneurs’ optimism, leading them to overestimate their subsequent levels of sales and employment. 

“It’s been shown in many studies that people are overly optimistic,” Cassar says. “What’s interesting here is that, when you use the accounting tools, the optimism is even more extreme. This suggests that using the tools, which a lot of academics and government agencies say is good practice, can lead to even bigger mistakes.”

He is not suggesting that anyone ignore accounting activities and techniques. Investors and regulators expect firms to implement robust accounting systems. And they should, he says, because financial reports provide a detailed map of a business and its performance. But Cassar believes that businesspeople — especially entrepreneurs, who bet both their reputations and personal wealth on their ventures — should understand the limitations of accounting estimates as well as how common human tendencies, like optimism, can lead to their misinterpretation.

Cassar’s first study, titled “Budgets, Financial Reports and Manager Forecast Accuracy,” set out to the test the usefulness of some basic tools in the accounting kit. It sprang from his work experience before he attended graduate school, when, as an accountant for a builder in his native Australia, he watched the company’s gradual decline into bankruptcy. “My first job was as a financial and managerial accountant for a civil construction firm,” he says. “My second, 18 months later, was working for the [bankruptcy] receiver of that same company.”

On review, the firm’s accountants had seemed to do everything right. They had prepared budgets and put systems in place to get timely performance reports that could then be factored into the company’s future budgets and plans. As two big highway jobs foundered, the losses showed up promptly in the monthly reports. Even so, company executives failed to take remedial action. “The project managers said that the losses would turn around, but they didn’t,” Cassar says. “On both those jobs, they went over budgeted costs by 50%. Those two jobs resulted in the demise of that company.”

But it wasn’t the accounting systems that were the problem. It was the users. “No one would take responsibility because the cost of doing that was losing your job,” Cassar says. “The irony is that, in the end, everyone lost their jobs.”

Cassar’s study enabled him to assess whether budgeting and internal reporting have helped other firms more than they did his former employer. He examined a group of about 4,000 companies, all with less than 200 employees, surveyed by the Australian Bureau of Statistics. Managers of these firms were asked whether they prepared budgets and internal reports and also were asked to provide revenue forecasts and in future years were asked to provide subsequent performance. The agency followed the firms over four years. Thus its data showed how close they came to meeting their forecasts.

Cassar suspected that doing either budgets or internal reports — or, better yet, both — might improve a company’s forecasts. “The presence in a firm of a budget preparation activity should result in improved forecast accuracy because the systematic collection of a broad range of information should allow for a more accurate assessment of future performance,” write Cassar and his co-author, Brian Gibson, an accounting professor at Australia’s University of New England. “However, budgeting in itself may not improve forecasting accuracy, because budgeting without internal reporting is a meaningless formal control system.”

When Cassar and Gibson crunched the numbers, their prediction was borne out: The impact of budgeting alone was trivial, improving forecast accuracy by less than 2%. But internal reporting made a real difference, improving accuracy by about 8.5%. And used together, the two techniques improved forecast accuracy even more, by about 12%. “Collectively these results suggest that internal accounting report preparation improves forecast accuracy. In addition, although the accuracy benefits from budget preparation appear limited, the improvement is greater when both budget preparation and internal account reporting are used,” Cassar and Gibson write.

What’s more, the firms that saw the most improvement in their forecasts were ones that operated in the most uncertain environments, as measured by the variability of revenue. Arguably, these firms most needed the guidance.  

Cassar’s second study, titled “Are Individuals Entering Self-Employment Overly-Optimistic? An Empirical Test of Plans and Projections on Nascent Entrepreneur Expectations,” built on the findings of his first one. Here, he wasn’t interested in whether accounting tools merely helped entrepreneurs; he wanted to know whether they could distort their thinking.

His curiosity grew partly from his knowledge of the field of behavioral economics, which marries the insights and methods of psychology and economics. Behavioralists have documented a number of mental shortcuts and biases that can lead people to depart from the logic that traditional economic orthodoxy would suggest. One of the concepts, for example, introduced by Nobel Laureate Daniel Kahneman and co-author Dan Lovallo, is that “an inside view” can distort decision making. A person who adopts an inside view becomes so focused on formulating his particular plan that he neglects to consider critical outside information, like other people’s experiences in pursuing the same goal.

“Individuals form an inside view forecast by focusing on the specifics of the case, the details of the plan that exists and obstacles to its completion, and by constructing scenarios of future progress,” Cassar summarizes. “In contrast, an outside view is statistical and comparative in nature and does not involve any attempt to divine the future at any level of detail.”

Doing financial projections for an entrepreneurial venture, Cassar realized, entails the creation of an inside view. The entrepreneur builds a storyline of success in her head and then plays it out in her spreadsheet, showing rising sales year after year. “Humans are good at storytelling and building causal links,” Cassar notes. “They think, ‘I’ll go to college, I’ll write a business plan, I’ll raise some capital and then I’ll go public or sell out to a big competitor.’ There’s a probability attached to each of these steps, but they don’t think about that. They put all the links together and evaluate the likelihood of success at a much higher probability than is realistic.”

Consider the approximately 400 aspiring U.S. entrepreneurs whom Cassar studied. On average, they believed that their ideas had about an 80% likelihood of becoming viable ventures, though only half actually ended up becoming businesses. Of the entrepreneurs who realized their plans, about 62% overestimated their first-year sales, and about 46% overestimated what their employment would be at the end of year one. Employment, unlike sales, implies both costs and benefits, perhaps explaining the lower jobs figure, Cassar notes. As a company grows it needs more employees, but it also has to pay them.

So far, none of this seems radical. Yes, entrepreneurs are optimistic. They have to be if they are undertaking the risks of starting a business. But when Cassar started to sort through the entrepreneurs’ use of common accounting and planning techniques, he uncovered surprises.

People who did financial projections were the most likely to overestimate the future sales of their ventures. In other words, “the same management activities that entrepreneurs rely on to cope with uncertainty appear to be causing individuals to hold optimistic expectations,” he writes. Interestingly, writing a business plan also led to optimism about the likelihood of success, but it didn’t lead to overly optimistic expectations because it’s also “positively associated with the likelihood that the nascent activity will become an operating venture,” he adds. Put another way, people who write plans are more likely to start companies, thereby justifying their optimism.

One group turned out to be more realistic than the others — entrepreneurs who had received money from real sales. “This demonstrates the benefit of actually making sales in improving the rationality of financial sales expectations,” Cassar notes.

Despite his findings, Cassar doesn’t believe that aspiring entrepreneurs should abandon financial projections. For one thing, investors, particularly venture capitalists, wouldn’t allow that; they expect firms in which they invest to do projections, if only because it demonstrates a command of the basics of budgets and accounting. For another, Cassar believes that preparing projections helps entrepreneurs understand the drivers of profitability in their businesses and the dynamics of their industries.

But he says that entrepreneurs need to understand the ways in which accounting tools may subvert their thinking. “Acknowledging how management practices bias expectations may allow decision makers to use organizational or decision making controls to reduce this influence,” he writes. “For example, generating reasons why the planned outcome may not be achieved or consciously relating past experiences to the forecasting task at hand are approaches individuals can take to reduce overly optimistic or overconfident forecasts.”

Cassar hasn’t studied them, but he suspects that venture capitalists might be better than entrepreneurs at viewing financial projections with the appropriate skepticism. Because they see hundreds, even thousands, of business plans a year, they tend to take an outside view.

“Very good VCs are good at picking winners because they know what the risks are,” he says. “A lot of VCs, when they go through business plans, think, ‘What are the drivers of value creation and what’s the scope of their upsides? And what are the fundamental threats that the entrepreneur isn’t focusing on because it’s not in his interest to do so?’”

Based on his own experience, Cassar sees “many benefits from managers and entrepreneurs using accounting techniques.” However, he adds, “it is important to recognize that financial projections of success are merely projections based on beliefs, which are sometimes based on overconfident or optimistic assumptions. Using these accounting tools may actually exacerbate, rather than dampen, these tendencies.”


7 sai lầm tài chính thường gặp nhất

Tháng Tư 30, 2008

7sailamtaichinh.jpg

Những giải pháp tiếp thị vụng về và các kế hoạch bán hàng thiếu hợp lý luôn là điều mà bất cứ chủ doanh nghiệp nào cần tránh. Song chưa dừng lại ở đó, sẽ là thật thiếu sót nếu không quan tâm tới các hoạt động tài chính và tránh xa những sai lầm đáng tiếc thường gặp nhất…

Trên cương vị một chủ doanh nghiệp, một nhà tư bản vốn mạo hiểm và một nhà đầu tư tài chính giàu kinh nghiệm, Christine Comaford-Lynch, CEO của hãng tư vấn tài chính kinh doanh Mighty Ventures, có trụ sở tại Napa Valley và Silicon Valley, Mỹ, đã chứng kiến rất nhiều chủ doanh nghiệp hết lần đến lần khác mắc phải các sai lầm tài chính khác nhau. Christine đã tổng kết lại bảy sai lầm tài chính thường gặp nhất và đưa ra những lời khuyên hữu ích.

Sai lầm số 1

Một trong những sai lầm mà các chủ doanh nghiệp thường mắc phải đó là tin rằng công ty mình là nơi duy nhất có những ý tưởng phi thường để xây dựng thành một kế hoạch kinh doanh hoàn hảo. Họ mang niềm tin này thẳng tới các giải pháp tài chính của công ty.

Song vấn đề ở chỗ, rất có thể có ai đó cũng có những suy nghĩ như bạn. Các quy định về luật bản quyền sẽ không bảo vệ ý tưởng của bạn. Ý tưởng của bạn chỉ được bảo vệ khi đã được thể hiện trên thực tế.

Hãy nhận thức rằng bạn có thể không là công ty duy nhất có ý tưởng này và đảm bảo rằng bạn sẽ nhận ra những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của mình. Hãy nhìn ra ngoài thị trường truyền thống để xác định nơi đâu cạnh tranh có thể xuất hiện. Ý tưởng của bạn có thể không độc nhất, nhưng nếu bạn xây dựng và thực thi một kế hoạch kinh doanh vững chắc cùng các giải pháp tài chính hợp lý dựa trên ý tưởng đó, bạn sẽ dẫn đầu trong cuộc đua.

Sai lầm số 2

Một sai lầm thường gặp khác trong hoạt động tài chính đó là các chủ doanh nghiệp luôn nỗ lực trở thành bạn bè với các nhà tài chính chuyên nghiệp.

Trách nhiệm ưu tiên số một của các nhà tài chính chuyên nghiệp đó là giúp các khách hàng kiếm được càng nhiều tiền càng tốt. Thành công của họ cũng chính là thành công của khoản đầu tư mà họ thay mặt khách hàng quản lý. Song nhiều khi xuất phát từ động cơ này mà nhiều nhà tài chính quá chú trọng tới yếu tố lợi nhuận mà quên đi những phát triển bền vững trong hoạt động kinh doanh của công ty.

Hãy đảm bảo rằng bạn luôn nắm rõ và làm chủ các hướng đi của đồng tiền mình bỏ ra. Đừng quá giao phó nó cho một ai đó. Bạn sẽ cần tới một chiến lược vững chắc để tự mình thực thi kế hoạch tài chính đã vạch ra.

Sai lầm số 3

Đừng đưa tất cả mọi thứ cho các nhà tài chính chuyên nghiệp trong một lần duy nhất. Hãy phân loại các hoàn cảnh và con người bạn lựa chọn để chia sẻ kế hoạch kinh doanh.

Bản kế hoạch kinh doanh nên nêu bật không chỉ ý tưởng của bạn mà còn phương thức bạn huy động tài chính cho nó. Trái tim của bản kế hoạch kinh doanh là cách thức thực thi. Hãy bảo vệ bản thân bạn bằng việc đảm bảo rằng phương thức thực thi không rơi vào những bàn tay thiếu tư cách. Số lượng bản sao nên được ghi rõ ở trang cuối cùng và bạn cần theo dõi nó kỹ lưỡng.

Sai lầm số 4

Một sai lầm khác đó là cường điệu hoá các kế hoạch tài chính của bạn khi tính toán sai quy mô thị trường, thời gian để phát triển sản phẩm và tung ra thị trường cũng như chiều dài chu trình bán hàng.

Christine đã từng chứng kiến nhiều chủ doanh nghiệp rất nồng nhiệt về một ý tưởng sản phẩm hay dịch vụ nào đó, nhưng lại quên mất xác định xem có bao nhiều người thực tế sẽ muốn mua nó.

Bạn có đang tạo ra những sản phẩm hấp dẫn hay thiết yếu? Các kế hoạch tài chính của bạn nên phản ánh điều này. Hãy cẩn thận trước khi cho rằng điều gì đó quá nở rộ kiểu như “Quy mô thị trường là vô cùng bởi vì tất cả mọi người đều cần nó!”.

Trong khi các nhà đầu tư chứng khoán luôn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các con số trong ngắn hạn, thì một công ty nên hướng tới những mục tiêu dài hạn. Những kế hoạch tài chính chặt chẽ và thực tế sẽ kéo dài quãng thời gian thu lợi nhuận của bạn, bởi vì nó không hào nhoáng và ấn tượng. Nhưng đó mới là yếu tố quyết định thành công. Hãy dựa trên những suy nghĩ thực tế mà bạn có thể đạt được và các nhà tài chính chuyên nghiệp cuối cùng cũng rất tôn trọng bạn.

Sai lầm số 5

Một khi chủ doanh nghiệp nhận ra dòng chảy doanh thu, họ rất dễ nghĩ rằng công ty sẽ thẳng tiến trên con đường gặt hái lợi nhuận. Nhưng sẽ là một sai lầm với việc cho rằng khi bạn có được một đơn đặt hàng của khách hàng, bạn sẽ có thể có được doanh thu. Hãy để mắt tới việc phải mất bao lâu mới nhận được các khoản thanh toán từ phía khách hàng.

Việc chi tiêu quá nhanh chóng trên cơ sở số lượng các đơn đặt hàng sẽ khiến nhiều công ty vướng phải những khó khăn về lưu lượng tiền mặt. Nhưng một chút dự đoán, lên kế hoạch và tự ý sử dụng ngân quỹ có thể rất hiệu quả. Những chủ doanh nghiệp quan tâm tới ngân quỹ của mình một cách cẩn trọng như đối với việc phát triển sản phẩm/dịch vụ luôn là những người hết sức thành công trong kinh doanh.

Sai lầm số 6

Một phần phức tạp khác trong việc xây dựng công ty đó là có một kế hoạch nhân sự thích hợp. Bạn có tuyển dụng khi bạn cần nhân sự và có thể đánh giá đúng họ, hay khi bạn có thể nhìn thấy nhu cầu trong tương lai gần? Nhiều công ty đã mắc phải sai lầm khi tuyển dụng ngay nhân sự khi chưa thực sự cần thiết. Kết quả là chi tiêu tiền lương sẽ tăng lên trong khi lợi nhuận chưa đủ bù đắp

Sẽ tốt nhất với việc có một nhóm nhân viên then chốt làm việc toàn thời gian cộng với một vài công tác viên bán thời gian ổn định. Đồng thời, bạn nên có sẵn một danh sách những người bạn có thể muốn tuyển dụng. Luôn có một đội ngũ chắc chắn bạn sẽ phải tuyển dung, chẳng hạn như bán hàng.

Sai lầm số 7

Đây là điều mà hầu hết các công ty có thể không xem là một sai lầm: kết giao với những đối tác không cần thiết. Chắc chắn rằng sẽ có những đối tác hết sức thiết yếu đối với hoạt động kinh doanh của bạn, chẳng hạn như các đối tác huy động vốn.

Nhưng bạn phải nhận thức đúng đắn từng mối quan hệ đối tác: Mỗi một mối quan hệ nên đem lại một vài giá trị tương thích. Christine nhớ lại một trường hợp ông được biết khi còn là nhà đầu tư vốn mạo hiểm. Đó là một công ty có mối quan hệ đối tác với nhiều nhà cung cấp phần mềm an ninh. Nhưng khi nhìn vào vô số các đối tác mà công ty này có, một sự bất hợp lý biểu lộ ngay khi có quá nhiều đối tác thực sự không có ý nghĩa nào cả. Đó như chỉ thoả mãn sự mong muốn có mối quan hệ xã hội rộng rãi của chủ công ty bởi có những đối tác của công ty không rõ phục vụ cho mục đích gì.

Những mối quan hệ đối tác vô nghĩa chỉ khiến tốn kém thời gian cùng một trách nhiệm mới. Khi một chủ doanh nghiệp lên danh sách quá nhiều đối tác với quá ít các ý nghĩa hữu hình, các nhà tài chính sẽ bắt đầu băn khoăn rằng công ty có đang lãng phí thời gian và tiền bạc.

Do vậy, hãy phân loại các đối tác của bạn và xác định rõ những lý do cộng tác cần thiết khi liên minh với bất cứ ai. Bản kế hoạch kinh doanh nên giải thích rõ bạn sẽ hợp tác bán hàng và hợp tác phát triển thị trường như thế nào cũng như đâu là những động cơ tài chính cần thiết cho từng bên đối tác.

Có thể nói, không những sai sót khác, nhiều khi những sai lầm trong hoạt động tài chính rất khó nhận ra trong khi hậu quả lại rất rõ rệt. Đừng đặt chân bạn vào những sai lầm này lần nữa. Một khi bạn nhận ra điều gì đó khiếm khuyết trong thế giới này và bạn xác định những “nỗi đau” nào xung quanh nó, bạn đang đi đúng hướng rồi đó.

…download toàn bộ bài viết tại đây fin001_7-sai-lam-tai-chinh-thuong-gap-nhat.pdf