Đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong cơ quan nhà nước

Tháng Một 5, 2009

TTO – Bộ trưởng Bộ Thông tin – truyền thông Lê Doãn Hợp vừa ra chỉ thị 07/2008/CT-BTTTT về việc đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước.Chỉ thị yêu cầu các đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin (CNTT) của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và sở thông tin – truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai cài đặt và tổ chức tập huấn, hướng dẫn sử dụng các phần mềm nguồn mở gồm: văn phòng OpenOffice, thư điện tử trên máy trạm Mozilla ThunderBird, trình duyệt web Mozilla FireFox và bộ gõ tiếng Việt Unikey.

Chậm nhất đến ngày 30-6-2009, đảm bảo 100% máy trạm của đơn vị chuyên trách về CNTT và sở thông tin – truyền thông được cài đặt, 100% cán bộ, nhân viên được tập huấn, hướng dẫn sử dụng, trong đó tối thiểu 50% cán bộ, nhân viên có thể sử dụng thành thạo trong công việc và có khả năng hướng dẫn trợ giúp các cơ quan, đơn vị khác thuộc bộ, ngành, tỉnh, thành phố.

Chỉ thị cũng yêu cầu các hiệp hội và doanh nghiệp CNTT đẩy mạnh ứng dụng phần mềm mã nguồn mở và hỗ trợ phát triển các cộng đồng phần mềm mã nguồn mở của Việt Nam.

Hiện nay tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm của Việt Nam vẫn còn rất cao. Việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở sẽ giúp giảm bớt tỉ lệ vi phạm bản quyền này, đồng thời góp phần vào sự phát triển của phần mềm mả nguồn mở nói riêng và CNTT Việt Nam nói chung.

ĐỨC THIỆN


Hệ thống công nghệ thông tin quản lý doanh nghiệp: Đầu tư ở mức nào?

Tháng Mười Một 24, 2008

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp không chỉ là chuyện đầu tư bao nhiêu tiền mà quan trọng hơn, đầu tư như thế nào để hệ thống hoạt động hiệu quả nhất.

hethongcntt01

Tất nhiên, nếu chi phí bỏ ra thấp nhất lại càng hay!

Một doanh nghiệp trong ngành sản xuất quyết định đầu tư xây dựng hệ thống ERP (Enterprise Resource Planning – phần mềm hoạch định tài nguyên doanh nghiệp), vì thấy doanh nghiệp bạn đã làm và… cải thiện được năng lực cạnh tranh. Ban giám đốc cho mời nhà tư vấn, tổ chức đấu thầu rình rang trong khi vẫn chưa rõ mục tiêu chiến lược; các phòng ban cũng chưa nêu được yêu cầu cụ thể về quy trình quản lý…

Bỏ qua lời khuyên của nhà tư vấn về việc cấu trúc lại hệ thống trước khi xây dựng ERP, doanh nghiệp này đã liều sử dụng hồ sơ thầu ERP của một doanh nghiệp khác ngành.

Rốt cuộc, họ cũng có được một hệ thống ERP nhưng hệ thống này lại… không phù hợp với chiến lược phát triển, quy trình làm việc giữa các phòng ban và tệ hơn, nó không tương thích với hệ thống công nghệ thông tin đang vận hành tại doanh nghiệp. Chi phí cả trăm ngàn Đô la Mỹ cho việc đổi mới quản lý xem như đổ sông đổ biển!

Xem tiếp…


Từ 1/8: Vi phạm bản quyền PM có thể bị truy cứu hình sự

Tháng Bảy 2, 2008

Trước nạn vi phạm bản quyền phần mềm tràn lan, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ra thông tư liên tịch Hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

 

Với mức xử phạt cao, thông tư này đang được đánh giá là có khả năng hạn chế nạn vi phạm về bản quyền phần mềm ở VN hiện nay. Thông tư liên tịch này chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8 tới.

 

Xem tiếp…


Compiere Installation Walkthrough

Tháng Bảy 1, 2008

Compiere is the most popular open source ERP software to date – largest number of downloads, channel partners,consultants and live customers. The first ever ERP software I installed was Compiere, back in 2002. It was quite remarkable back then – for me,ERP software was this huge,complicated software that requires 10 days to install,not mentioning the money you would have to pay for licenses. I desperately looked for a 30-days trial of commercial ERP solutions but soon realized I would have to be the CIO of a 1B$+ company to get any attention from those guys.

When I found Compiere, the only thing that bothered me was that they were using Oracle as a database backend.I couldn’t figure out why wouldn’t they use an open source database (PostgreSQL, MySQL). How come an open source project decides to use a commercial software for the most important component of their solution? Other than the philosophical questions regarding the true ‘open-sourceness’ of such a solution, there are some commercial questions – why would you offer something for free(ERP) and ask people to pay big money(for the Oracle database license) to be able to use it?.

Xem tiếp…


Adempiere Installation Walkthrough

Tháng Bảy 1, 2008

Adempiere is a spin-off project from Compiere, arguably the most popular open source ERP solution on the market today. Whenever that kind of spin-off happens, especially from an open source project, you know that the members that left are hungry. They are hungry to prove they can do things better than the original project,otherwise they would not have left. Going to Adempiere’s website, I was anxious to see how the Adempiere project is doing.

I Googled Adempiere. The first result was adempiere.com. I clicked on the link, and after a couple of seconds, I noticed things were quite. Too quite. The site’s design is very clean and pleasant, but the first thing I notice is a “Adempiere 3.20″ message, dated Wednesday , 16 May,2007, 6 months old. I know that Adempiere is one of the most active open source ERP projects today so I’m probably doing something wrong. I also look for the ‘Download’ link, but nothing is there, on the adempiere.com homepage. Looks like an abandoned house. Something’s wrong, I’m not in the right place.

Xem tiếp…


Bill Gates và câu chuyện bí mật trong Nhà Trắng

Tháng Sáu 24, 2008

Washington, ngày 21/10/1997 để ứng phó với những lời buộc tội của Bộ Tư pháp, Hãng chế tạo phần mềm Microsoft tuyên bố sẽ cung cấp cho Chính phủ liên bang những chuyện trước kia họ vẫn từng “kín miệng bình”.
> Những âm mưu hủy diệt Bill Gates

Những người đại diện Microsoft đã tổ chức cuộc họp khẩn với Tổng thống Bill Clinton tại Phòng Bầu dục trong Nhà Trắng.

Nước Mỹ sẽ là một bộ phận do Microsoft sở hữu. Theo Steve Ballmer, chủ tịch Microsoft, chi tiết kế hoạch làm ăn ban đầu dự tính sẽ được đưa ra vào tháng 7 năm sau và Chính phủ liên bang sẽ thực sự có lợi “sớm nhất là vào quý 4/1999”. Phát biểu về vấn đề này, Tổng thống Bill Clinton khẳng định ông “sẵn lòng” chấp nhận giữ chức phó chủ tịch Microsoft, cùng lúc duy trì việc quản lý Chính phủ liên bang và sẽ trực tiếp báo cáo công việc cho Bill Gates.

Khi được hỏi tại sao ông lại giao toàn quyền điều hành cho Gates, Clinton chỉ mỉm cười, hàm ý coi đó như một “lòng tin”. Ông luôn cho rằng Gates có một “lý lịch xán lạn”, rằng công dân Mỹ nên “ủng hộ và đặt lòng tin” vào Gates. Được biết, với cương vị mới của mình tại Microsoft, Clinton có thể kiếm được gấp nhiều lần mức lương 200.000 USD hằng năm mà ông lĩnh từ chiếc ghế Tổng thống Mỹ.

Hai vợ chồng Bill Gates.

Gates bác bỏ đề xuất di chuyển Quốc hội Mỹ tới Redmond và coi đó là một việc “ngớ ngẩn”, mặc dầu ông khẳng định rằng từ vị trí hiện nay tại tập đoàn Microsoft, ông sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn việc điều hành Chính phủ Mỹ. Gates tiếp tục nhấn mạnh rằng Thượng và Hạ viện Mỹ đương nhiên sẽ bị xóa bỏ. “Microsoft không phải là một nền dân chủ” – ông nói – “và hãy xem chúng tôi làm mọi việc êm thấm thế nào”. Đại diện Microsoft đã kết thúc cuộc họp bằng cách khẳng định rằng người dân Mỹ sẽ có thể hi vọng những mức thuế thấp hơn, sự gia tăng trong các dịch vụ của Chính phủ và sự giảm giá đối với tất cả sản phẩm của Microsoft.

Câu lạc bộ thuyền trưởng Ahab

Trở lại năm 1993, thời kỳ yên bình mà người ta có thể đọc toàn bộ tờ tạp chí mà chẳng tình cờ thấy cái tên Bill Gates đâu cả, Ray Noorda (CEO của Novell) và Gates đều cảnh báo rằng địch thủ của họ sẽ phải khóc hận. Không lâu sau, lời cảnh báo đó đã đúng.

Trụ sở của Novell tại bang Utah đã phát minh ra phương thức thông minh nhằm kết nối máy tính cá nhân riêng lẻ và nhờ đó đồng nghiệp trong cùng văn phòng có thể dùng chung máy in và file trên máy tính. Đó là đầu thập niên 1980. Kể từ đó, Novell kiếm được hàng tỉ đôla từ sản phẩm này mà Microsoft chẳng thể thâm nhập được.

Đã hai lần Microsoft tỏ ý muốn mua công ty của Noorda; song cả hai lần Gates đều phải kiếm cớ là ông ta đã thay đổi ý định, rằng như thể “tớ thèm vào”! Mọi việc không phải không có lý do. Noorda cảm thấy Gates và những kẻ thân cận tỏ ra thân thiện với Novell chỉ để tìm hiểu xem họ có thể làm gì với công ty này. Hơn nữa, Noorda vẫn có thể tỉnh bơ ăn ngon ngủ yên trước hàng lô các lời khoác lác hằng năm của Gates tại COMDEX (Buổi giới thiệu sản phẩm thương mại của các doanh nghiệp máy tính), rằng năm nay Microsoft rồi sẽ mua đứt Novell.

Trước kia, Novell từng cố giữ hòa khí với Microsoft trước bao lời nói xấu cường điệu. Cánh tay phải của Gates là Steve Ballmer, người có giọng nói sang sảng, từng nhạo báng Novell là kẻ cạnh tranh “bẩn thỉu”, chuyên bán tin tức dối trá cho báo chí. Kể từ đó, cuộc chiến bắt đầu leo thang. Trong một cuộc phỏng vấn, Noorda nói: “Thái độ của Bill Gates là sự xúc phạm đối với ngành công nghiệp cũng như với cả thế giới”. Ông ta gắn cho Gates cái tên “Thiên đường” còn Ballmer là “Kẻ ướp xác” rồi chẳng ngại ngần giải thích lý do. Gates là Thiên đường vì ông ta luôn hứa vung vít với bạn mọi điều đẹp đẽ như trên thiên đường, trong khi phía sau, Ballmer tay lăm lăm cuốc xẻng chuẩn bị đào huyệt chôn xác bạn.

Noorda tổ chức nhiều cuộc họp với giám đốc điều hành của Lotus, WordPerfect và các công ty buôn bán phần mềm khác. Báo chí miêu tả Noorda là một người đàn ông khoảng 60 tuổi khi hầu hết đồng sự của ông ta mới chỉ khoảng 30. Họ dùng những từ kính nhi viễn chi đại loại “chú, bác” hay “bố già” để nói về ông. Tuy nhiên, Microsoft lại tiết lộ rằng họ từng định đặt cho Ray Noorda cái tên “ông già đến từ địa ngục”.

Các giám đốc điều hành Microsoft chậc lưỡi kể rằng Noorda mắc bệnh chủ nghĩa cá nhân. Họ chỉ biết lắc đầu quầy quậy khi nói đến sự giận dữ cuồng nộ mà Noorda đổ trút lên đầu Gates. Tội nghiệp Bill thay! – họ nói với nhau bằng vẻ mặt thông cảm và thương hại. Kinh doanh là một nhẽ nhưng nói rằng Bill không có trái tim ư? Sao lại ác mồm ác miệng như thế được. Nathan Myhrvold, trưởng bộ phận kỹ thuật của công ty và cũng là bạn thân của Gates, lúc nào cũng đem câu chuyện về con cá voi Moby-Dick (trong tác phẩm kinh điển của nhà văn Mỹ Herman Melville) ra kể trong các cuộc họp nhân viên cấp cao.

Myhrvold không thể nói chính xác điều gì khiến cuộc đời ông lại thấm đẫm chất văn học Mỹ cổ điển đến như thế song ông có thể xác định chắc chắn rằng sự vu khống của Noorda là không chấp nhận được. Tính cách tương đồng giữa Noorda và thuyền trưởng Ahab, nhân vật chính trong tác phẩm Moby-Dick, là điều mà Myhrvold muốn ám chỉ. Ahab bị mất một chân khi cố đâm con cá voi trắng khổng lồ. Ông ta có thể đổ lỗi cho vận đen hay tính khắc nghiệt của công việc, song thay vì thế, ông ta lại trút lên đầu Moby-Dick. Đáp lại sự hớn hở tột độ của gia đình Microsoft, Myhrvold long trọng tuyên bố Noorda là thành viên chính thức của câu lạc bộ mà ông ta đã thông minh xướng ra cái tên “Câu lạc bộ thuyền trưởng Ahab”. Và thế là Câu lạc bộ thuyền trưởng Ahab ngày càng có nhiều thành viên mới, vinh hạnh được Nathan Myhrvold kết nạp.

Nathan Myhrvold là người béo tròn với đôi mắt xanh xám hấp háy sau đôi kính gọng thép. Bộ râu quai nón hỗn hợp đủ màu nâu, đỏ, điểm chút xám được cắt tỉa gọn và mái tóc phủ một lớp xoăn màu nâu lộn xộn đã tạo cho ông ta thần thái giống một nhà khoa học hơi khùng khùng. Năm 1986, ông ta bán một công ty (mà ông là người đồng sáng lập) cho Microsoft với giá 1,5 triệu USD. Đến năm 1998, Forbes ước tính trị giá công ty này lên tới trên 300 triệu USD.

Năm năm sau khi thành lập Câu lạc bộ thuyền trưởng Ahab, Myhrvold vẫn luôn hứng chí với sáng kiến thông minh của mình. Điểm lại danh sách hội viên Câu lạc bộ, ông ta chuyên nhái giọng và lúc nào cũng kể vài mẩu chuyện phiếm về các “hội viên”. Liệu Larry Ellison có phải là thành viên của Câu lạc bộ không nhỉ? Quá xứng đáng! – Myhrvold nói một cách hào hứng.

Thành tích Ellison cỡ nào? Ông ta có 10 tỉ USD nhưng vẫn là kẻ bại trận. Trong một e–mail, Myhrvold viết: “Các cổ đông tốt hơn nên tìm một cỗ áo quan cho Ellison”. Đó là một hình ảnh không thể quên ở gần phần kết câu chuyện Moby-Dick: chiếc xuồng cứu hộ cùng số thủy thủ còn sống sót đã đóng một chiếc quan tài chở xác Ahab về nhà.

Đối với Scott McNeatly, Philippe Kahn, Jim Manzi…, Myhrvold thích thú kể về những sai lầm của họ, rằng đó là những kẻ “hoàn toàn bị Bill ám ảnh và luôn cố huyễn hoặc bản thân rằng mình là người kế tục Bill”. Tuy nhiên, sự rạng rỡ và vui vẻ biến mất trên khuôn mặt Myhrvold khi đề cập đến Gary Kildall, người sáng lập công ty Digital Research.

Năm 1980, thời điểm mà IBM gõ cửa cả hai công ty Microsoft và Digital Research, Bill Gates mới 25 và Gary Kildall 38 tuổi. Cả hai cùng trưởng thành ở Seattle, đều là người da trắng có đầu óc toán học và bộ não khoa học siêu việt. Gary Kildall nổi tiếng là nhà khoa học được đào tạo chính quy. Ngược lại, Bill Gates là tên hacker tự học, một kẻ bỏ trường và luôn có xu hướng thương mại. Kildall là người phát minh; Gates là thiên tài bắt chước.

Sau khi lấy được tấm bằng tiến sĩ khoa học vi tính từ Đại học Washington, Kildall dạy môn khoa học vi tính tại một trong những trung tâm huấn luyện quân sự danh tiếng nhất Mỹ – Trường đào tạo hải quân ở Monterey (bang California). Trong khi Gates tự hào về vài shortcut phần mềm thông minh thì Kildall lại tỏ ý khinh thường những trò bịp trẻ con như vậy. Kildall là người có bộ râu quai nón, đẹp trai, cao lớn, gọn gàng, lịch sự và dí dỏm. Trái lại, Gates với cái đầu xù tổ quạ lại là người huênh hoang và tự cao tự đại.

Trên đường đời, họ va chạm nhau từ rất lâu nhưng mỗi lần như vậy lại càng cho thấy sự khác biệt giữa hai người. Kildall, một ông bố mẫu mực; Gates, một kẻ cù bơ lượn lờ quanh trung tâm tin học gần Đại học Washington. “Họ tương phản nhau như (diễn viên hài) Woody Allen với (diễn viên thượng thặng) Gary Cooper” – Stephen Manes và Paul Andrew đã viết như vậy trong cuốn Gates. Thời kỳ đầu, Microsoft chỉ tập trung vào ngôn ngữ máy tính; trong khi đó, Digital Research của Kildall đã bắt đầu chuyên môn hóa hệ điều hành.

Năm 1977, Gates bay tới Pacific Grove (California) để bái kiến đại sư huynh Kildall. Dù lúc đó mới 21 tuổi nhưng Gates đã rất nhạy bén, hiểu rằng cần phải liên kết để kiếm lời. Kildall đã không cắn câu. Việc Gates tập trung vào ngôn ngữ lập trình hoàn toàn ngẫu nhiên. Mọi việc bắt đầu khi một người bạn thời thơ ấu của Gates, Paul Allen đã đưa vấn đề Điện tử thông dụng lên một tạp chí. Trên trang bìa là hình chiếc máy vi tính có tên gọi là Altair 8080. Ed Roberts, chủ tịch công ty có trụ sở đặt tại Albuquerque, người bán chiếc máy trên, thừa nhận rằng chiếc máy này chẳng làm được gì ngoài việc kêu vo vo như ong vỡ tổ. “Đây là cơ hội của chúng ta” – Allen nói với Gates vào một ngày mùa đông 1975, lúc đó Gates học năm thứ hai Đại học Harvard. Hai người cùng nhau thành lập công ty. Kể từ đó, họ đặt chân vào lĩnh vực kinh doanh ngôn ngữ máy tính.

Cả hai gửi cho Ed Roberts bức thư trang trọng, nội dung đề cập dự án hứa hẹn mà họ cùng nhau tiến hành trước đó. Họ tuyên bố rằng chúng tôi có phiên bản BASIC lý tưởng phù hợp với Altair. Đương nhiên là họ đã lừa gạt và không hoàn toàn nghĩ thẳng vào vấn đề. Tám tuần tiếp theo đó, Gates và Allen thực sự sống trong phòng thí nghiệm máy tính Aiken tại Đại học Harvard, chỉ dám chợp mắt trên bàn phím. Họ nghỉ học liên tục, ăn uống thất thường với thứ thực phẩm tạp nhạp rút ra từ máy tự động. Nhiều năm sau, câu chuyện về Altair đã trở thành khoảnh khắc đáng nhớ trong lịch sử vi tính. Thực tế lại không kỳ diệu như vậy.

Bộ máy tính MITS được lắp đặt tại một nhà hàng Trung Quốc trong khu vực hoang phế Albuquerque do các câu lạc bộ múa thoát y và những kẻ xì ke điều hành. Không những Allen cầu nguyện cho chương trình BASIC Altair đem lại hiệu quả mà Roberts và nhân viên kỹ thuật của ông ta cũng hy vọng rằng máy của họ sẽ chạy tốt. Hai bên đưa ra một thỏa thuận. Roberts trả cho Gates và Allen trước 3.000 USD, sau đó hai người sẽ được chia từ 30-60 USD (phụ thuộc từng phiên bản) cho mỗi bản copy chương trình mà Roberts bán được.

Trở lại Cambridge, Gates đã gặt hái thành công bước đầu nhưng giới chức sắc Harvard hầu như không hài lòng. Giám đốc Trung tâm vi tính tại đại học này, Thomas Cheatham, từng là thầy giáo của Gates trong vài khóa học, đã đưa ra những chỉ trích đại loại “thật ghê tởm”, “(Bill Gates) không phải là kẻ dễ mến, hắn là một cái nhọt ở mông!”. Mùa đông năm đó, Cheatham nhận ra rằng Gates đã ngốn hàng giờ ở hệ thống vi tính trong trường. Qua thông tin mật, Cheatham còn biết Gates đã đưa bạn – không phải sinh viên Harvard – đến làm việc trong trung tâm vi tính của trường về một dự án thương mại. Đại học Harvard chính thức điều tra vụ này nhưng cuối cùng Gates chỉ bị khiển trách vì tội tự ý đưa người bên ngoài vào. Thật nhục nhã! Việc Gates tự do sử dụng máy vi tính của trường đã làm thành tiền lệ cho đám sinh viên hậu bối…

Một tháng sau khi hoàn thành dự án Altair BASIC, Paul Allen đến làm việc cho Ed Roberts với tư cách phó chủ tịch phụ trách phần mềm. Cùng thời gian đó, Gates tiếp tục theo học hai năm nữa tại Harvard, tiếp tục tranh cãi với cha mẹ về tương lai mình trong khi vẫn vừa học vừa làm tại nhà trọ Sand & Sage ở Albuquerque. Thậm chí trước khi rời Harvard, Gates đã gây thù chuốc oán trong ngành công nghiệp máy tính cá nhân mới mẻ này. Vấn đề chính là tiền bạc. Ed Roberts kiếm được hàng triệu đô la nhờ bán máy còn Gates và Allen chỉ có thể kiếm một hoặc hai nghìn đô la một tháng từ tiền bản quyền.

 Người ta chỉ trả tiền để mua phần cứng vì họ cần phải mua chứ họ không bao giờ chịu chi tiền cho phần mềm vì họ có thể copy miễn phí từ bạn bè và tiết kiệm được 75 USD mà Roberts đã tính phí cho chương trình Altair BASIC. Trước đó, thực ra không ai phải trả tiền phần mềm cả. Khi Gates biết được sự thật này, ông ta đã nổi đóa rồi viết một bức thư ngỏ với lời lẽ hết sức cảm động đưa lên vài tờ báo. Bức thư vận dụng mọi tinh hoa học vấn sinh viên năm thứ hai của Bill Gates.

Cùng Allen, Bill Gates rõ ràng đáng được bồi thường tương xứng với công sức mình nhưng cách trình bày của Gates thật sống sượng và đầy yếu tố kích động. Ông ta nói với độc giả rằng “hầu hết các vị đang ăn cắp phần mềm của tôi”. Trong trường hợp này, ông ta không nhắc đến ý chính mà gọi tất cả họ là “những tên trộm” ở đoạn kế tiếp. Sau đó, ông ta tự bảo vệ mình và đòi bồi thường một cách thật lố bịch khi lâm ly kể lể rằng mình và Allen đã dùng hơn 40.000 USD trong thời gian ở máy tính để phát triển Altair BASIC.

Ông ta không hề ngại ngần khi nhắc đến tiền – lạc lõng với độ tuổi còn quá trẻ – và ông ta vẫn sẽ tiếp tục giai điệu tiền trong suốt thời gian dài sau này. Ông ta thậm chí không e dè nói đến ước muốn kiếm thật nhiều tiền trong khả năng có thể. Sự nực cười và mâu thuẫn trong bức thư của Bill Gates đã không thu hút được độc giả. Người ta thậm chí đồn đại rằng Gates đã sao chép toàn bộ trong hệ thống máy tính Đại học Harvard. Họ cũng phản ứng lại bằng cách gửi vài bức thư cạnh khóe tương đương đến cho Gates.

Năm 1973, Gary Kildall làm tư vấn cho Intel. Tuy nhiên, ước mơ của ông ta khiêm tốn hơn, giống như việc mua cái vòng xuyến cho trẻ con hoặc sửa chữa vớ vẩn quanh nhà. Cuộc sống một giáo sư ở Monterey được tặng thưởng nhưng chẳng đáng là bao. Kildall chứ không phải Gates, là người luôn tuân theo quy tắc và tình cờ trở thành nhà kinh doanh. Làm việc cho Intel khiến Kildall đi đi về về hàng ngày trên xa lộ và bắt đầu kiệt sức. Do đó, ông đã lắp một chiếc máy tính nhỏ để có thể làm việc tại nhà. Để tăng hiệu quả, ông viết một chương trình giúp hỗ trợ lưu trữ file về những phát minh ông còn ấp ủ và nhờ vậy ông đã tạo ra CP/M và một công ty tên là Intergalactic Digital Research theo tinh thần của thời đại. Thật đáng nể, ông ta đã viết CP/M trong vòng vài tuần.

Xét đến một hệ điều hành như nói đến hệ thống điện trong nhà. Thực ra tự nó không làm được gì nhiều nhưng nếu không có nó thì chúng ta không thể sử dụng máy hút bụi, nghe giàn máy âm thanh, không xem được đồng hồ điện tử hoặc tivi. Xét đến các thiết bị ứng dụng công nghệ (chương trình xử lý văn bản, trò chơi điện tử…) cũng giống như nói đến thiết bị cắm vào ổ điện. Ngày nay, hệ điều hành (OS) bao gồm mọi thứ, từ cái bồn rửa trong bếp, máy tính, đồng hồ, hệ thống xử lý văn bản, trò chơi điện tử đến trang web.

Nhưng khi quay trở lại cuối thập niên 1970 và đầu 1980, hệ điều hành đúng là một cuộc cách mạng. Hệ điều hành là trung gian giữa bàn phím và màn hình vi tính. Do đó, số người mua hoặc mượn CP/M của Kildall nhiều đến nỗi CP/M bắt đầu trở thành tiêu chuẩn mà mọi người sử dụng vi tính đều đi theo. Cho đến thời điểm hai nhân viên IBM đến thảo luận về việc sử dụng hệ điều hành trên một số máy tính cá nhân mới tuyệt mật của IBM, Kildall đã kiếm được hàng triệu đô la. Rất nhiều truyền tụng xung quanh cuộc đàm phán ngắn ngủi giữa Kildall và IBM.

Kẻ có tiền và kẻ có đầu óc đã mời nhau ăn những bữa tiệc khai vị bằng trứng chim cút nhúng nước sốt thịt bò và kết thúc bằng ly rượu vang nho Taylor Fladgate. Ở thuở ban đầu của máy tính cá nhân, khi kiếm được quá nhiều tiền, Kildall đã từ chối lời mời từ IBM, có thể vì quá kiêu ngạo. Những người thuật chuyện luôn lắc đầu trước sự ngớ ngẩn đó mỗi khi nhắc lại. Điều thú vị là chính Bill Gates đã làm trung gian trong vụ IBM gặp Kildall.

Đó là thời gian mà Gates thường dậy vào buổi sáng, mặc quần áo mà không cần tắm, chui áo len qua đầu rồi xỏ chân vào chiếc quần jeans, đứng trong bếp ngấu nghiến hết bát ngũ cốc trước khi đi lượn lờ trên chiếc Mercedes nâu. Dường như ông ta đã nhiều lần quên không đánh răng nên chuyện ngụ ngôn về hơi thở nồng nặc mùi lạ của Gates đã ra đời từ đó.

Năm 1980, khi 24 tuổi, Bill Gates đã bay vòng quanh thế giới mà không hề mệt mỏi, đến châu Âu, Nhật cũng như bất kỳ thành phố nào ở Mỹ, nơi có các nhà sản xuất máy vi tính quan tâm đến việc cấp phép cho sản phẩm của Microsoft. Trông Gates luôn mệt mỏi bơ phờ, đầu không chải, râu không cạo. Tuy nhiên, khi đến gõ cửa IBM, Gates đã vận bộ com-lê, mái tóc dài bờm xờm được ốp lại, dù không hợp lắm nhưng tối thiểu cũng cho thấy nỗ lực làm cho mình trông được chỉnh tề. Nếu có thể yêu được một tập thể, Gates hẳn phải yêu IBM, được biết đến nhiều hơn với thế hệ siêu máy tính Big Blue.

Trước khi được quan chức IBM đề nghị gặp gỡ, Gates đã tìm hiểu rất kỹ về công ty này. Đối với Gates, người thành lập công ty IBM, “đại đế” Thomas Watson, gần giống như một anh hùng siêu quần. Cuốn sách kinh doanh mà Gates yêu thích chỉ có thể là quyển The IBM Way của Watson. Trong cuộc gặp, Gates đóng vai một kẻ xảo trá đến nỗi mà lời nói của ông ta đã xuất hiện không lâu hơn các dòng trên màn hình vi tính sau khi tắt máy. IBM muốn có CP/M chứ không phải Kildall. Đối với IBM, việc giữ bí mật là tuyệt đối quan trọng. Đó còn là cả vấn đề văn hóa. Ngành công nghiệp vi tính đã tiến hành cải cách từ chiếc cổ áo ủi cứng cài khuy của nhân viên IBM đến chiếc áo sơ mi dính vết bánh pizza và mái tóc xơ xác của nhân viên Microsoft. Nhưng dù cho nhân viên hai công ty mặc đồ cotton hay flannel xám thì IBM và Microsoft cũng chẳng khác gì nhau.

IBM đủ hùng mạnh để thu hút được hiền tài và lập nên một nhóm cao thủ. Chủ tịch IBM còn biết mẹ của Gates vì cả hai từng làm việc cho tổ chức United Way. Gates có phần do dự khi IBM đề nghị xem xét việc mua lại bản quyền CB/M của Kildall. Thay vào đó, Gates đề xuất giúp IBM thiết lập cuộc hẹn với Kildall tại Pacific Grove…

Trong cùng thời gian, Paul Allen biết một công ty nhỏ có tên là Seattle Computer chuyên bán QDOS dành cho hệ điều hành Quick & Dirty, được Tim Paterson soạn. Paterson cho biết ông ta viết QDOC bằng sách hướng dẫn CP/M. Thỏa thuận mà Microsoft đề nghị với Seattle Computer tạo điều kiện cho Microsoft có quyền phân phối QDOS tới hàng loạt người sử dụng. Microsoft đã bỏ chữ Q và đặt lại tên hệ điều hành là DOS.

Không hiểu sao tin tức về vụ DOS bị tiết lộ và bỗng nhiên các nhà sản xuất máy vi tính trên toàn thế giới đã điện tới trụ sở Microsoft. Mục tiêu của Gates là mua toàn bộ bản quyền QDOS trước khi IBM tung ra máy tính cá nhân với hệ điều hành mới; và tất nhiên trước khi Seattle Computer có thể đánh giá toàn bộ giá trị của hệ điều hành mà họ đang có. Seattle đề nghị bán toàn bộ bản quyền hệ điều hành cho Microsoft với giá 150.000 USD nhưng Ballmer đã kỳ kèo xuống còn 75.000 USD. Kildall bắt đầu làm ầm ĩ bằng việc chỉ ra những điểm tương đồng giữa CP/M và DOS.

Các yếu tố khác, ngoài vấn đề giá cả, cũng gây ảnh hưởng đến Kildall. Những kẻ bắt chước luôn hứng thú với lợi ích khi nghiên cứu nhược điểm người đi trước. Cả Seattle và Microsoft đã cải tiến sản phẩm dựa trên phát minh của Kildall. Phần mềm mà IBM bán để sử dụng cho máy tính cá nhân chính là phần mềm tương thích với DOS chứ không tương thích CP/M.

Có thể cuộc sống của Kildall không sôi động vì ông không có nhiều tham vọng hoặc ít nhất cũng chỉ mơ đến việc đổi mới trong thế giới vi tính. Người đàn ông này, được một người bạn miêu tả là “đứa trẻ lớn nhất mà tôi từng biết”, là người chỉ coi việc kinh doanh máy tính như món đồ chơi trong vô số loại đồ chơi. Gates sẵn sàng làm bất kỳ việc gì mà khách hàng cần; ngược lại, Kildall là nhà khoa học chỉ muốn bảo vệ sự thuần khiết của phát minh tránh khỏi những bộ óc buôn bán bỉ lậu.

Cựu nhân viên Digital Reasearch cho biết Kildall không hề thích quản lý công ty 30 nhân viên, không khao khát được sống trong ngôi nhà theo phong cách Victoria tráng lệ, không mong muốn cổ phiếu của công ty được niêm yết tại đấu trường Wall Street. Ông ta cũng không muốn thuê giám đốc điều hành vì sợ người ngoài làm hỏng không khí gia đình trong Digital Research. Mẹ của Kildall, bà Emma, kể: “Hắn rất ngây thơ và thờ ơ với mọi thứ. Hắn không có khiếu kinh doanh kiểu giết người”.

Rõ ràng là Gates lại có năng khiếu này. Khi học môn toán tại Harvard, Gates đã hiểu luật chơi: với mọi đối thủ, bạn phải tự tìm cách riêng để chiến thắng. Khi Gates biết rằng Kildall dự định ký hợp đồng cài đặt CP/M cho máy tính Hewlett-Packard, ngay hôm sau, ông ta đã có mặt tại Palo Alto để cổ động Hewlett ký hợp đồng với mình. Nhìn chung, nhân viên kỹ thuật Hewlett đều thích CP/M hơn nhưng Gates đã thuyết phục được ban điều hành Hewlett chọn DOS. J

ames Wallace và Jim Erickson, trong cuốn tiểu sử về Gates nhan đề Hard Drive, đã kể lại cuộc đàm phán năm 1981 giữa Gates và một giám đốc bậc trung có tên là Richard Leeds. Cao trào câu chuyện là lúc Gates đấm vào lòng bàn tay mình và cảnh cáo: “Chúng tôi sẽ đẩy Digital Research ra ngoài vụ kinh doanh này!”. Ed Curry, người hiểu Gates rất rõ từ những ngày ở Albuquerque, cho biết: “Đó là chiến thuật của Bill: phải đánh tan mọi người. Hoặc nâng lên hoặc dập họ không thương tiếc, như giết một con chí mén!”.

Ước mơ tiếp theo của Kildall là sản phẩm Logo, một ngôn ngữ vi tính đơn giản đến mức học sinh trung học cũng có thể sử dụng. Nhưng một lần nữa, Kildall lại thua Gates. Sản phẩm cạnh tranh với Logo của Microsoft là BASIC đã có được lợi thế nhờ sự hỗ trợ tiếp thị của IBM. Kildall sau này đã đấm vào ngực và thốt lên: “Bây giờ tôi mới hiểu rằng máy vi tính được làm để kiếm tiền chứ không dành cho trí tuệ”. Trong thực tế, Kildall chẳng rút kinh nghiệm gì cả. Kildall cũng từng ấp ủ khả năng truyền thông đa phương tiện.

Ông đã thành lập một công ty tên Knowledge-Set chuyên nghiên cứu cài đặt bách khoa toàn thư vào CD–ROM. Thật ngớ ngẩn, ông ta lại hớ hênh kể với Gates về vụ CD–ROM toàn thư. Sau đó, ông được mời phát biểu chính tại một hội thảo về CD–ROM do Microsoft tài trợ. Bạn bè cảnh cáo Kildall rằng coi chừng ông là trò chơi trong tay Gates nhưng Kildall không nghĩ như vậy. Ông ta còn phân phát bài diễn văn mà không hề nhận ra rằng Microsoft đã lợi dụng lòng tin của ông để tạo nên dự án CD–ROM toàn thư ngay từ trong trứng nước. Dĩ nhiên, bây giờ ai cũng biết bộ CD–ROM Encarta của Microsoft đã trở thành bộ bách khoa toàn thư bán chạy nhất thế giới.

Tầm cỡ của Gates ngày càng lớn. Năm 1981, chuyên san Fortune đăng hình Gates và Allen với tiêu đề là người tiên phong phát triển kỹ thuật số. Còn Kildall chỉ được nhắc đến thoáng qua. Vài năm sau, Gates phát triển IBM–PC vùn vụt và bài viết về Bill Gates xuất hiện liên tục trên Money và Time. Tờ Business Week gọi ông ta là “cậu bé phần mềm”.

Tờ People đưa Gates (cùng Ronald Reagan) vào danh sách “25 người hấp dẫn nhất” vào năm 1983. Đến lúc đó, ngoại hình Gates tiếp tục không ổn, vẫn với mái tóc bù xù không chải kèm theo cái khuỷu tay chống vào mạng sườn khinh đời. Có lẽ điều làm Kildall khó chịu nhất là việc các tác giả bài báo thường khen Gates nhạy bén về công nghệ hơn kinh doanh. Những gì mà Gates và hai người bạn đã làm được tại Trung tâm vi tính Đại học Harvard thật ấn tượng nhưng không thể so với thành tựu của Kildall hoặc của hàng loạt người đi trước. Và rồi, thật mỉa mai, sau này Gates sẽ luôn ra oai với Kildall mọi lúc mọi nơi: khi cùng tham dự hội thảo máy vi tính tổ chức tại Khu nghỉ mát Playboy ở Wisconsin năm 1981 hay bất kỳ lúc nào có cơ hội.

David Bunnell, người phụ trách kỹ thuật cho Ed Roberts trước khi trở thành nhà xuất bản sách công nghệ vi tính, kể lại: “Đương nhiên Bill rất hả hê. Đó là một phần để mở mang trí óc”! Tuy vậy, Kildall vẫn bất chấp Gates. Ông ta nói với mọi người rằng khi thấy DOS, ông ta như thấy tâm trí của mình. Kildall tuyên bố rằng Gates ăn theo ông, lợi dụng ý tưởng mà ông ấp ủ. Đầu thập niên 1990, ông bắt đầu viết cuốn Computer Chronicles, nhằm xóa bỏ những suy nghĩ hoang tưởng về thời kỳ đầu của ngành công nghiệp vi tính. Theo một số người từng đọc bản thảo chưa xuất bản, cuốn sách chủ yếu bác bỏ sự hoang tưởng của Bill Gates.

Gary Kildall qua đời vào tháng 7–1994 vì bị một cú đấm vào đầu trong một quán bar ở Monterey. Những gì thực sự xảy ra vào buổi tối hôm đó chẳng ai biết chắc, chỉ nghe rằng hôm đó Kildall mặc chiếc áo gi-lê bằng da màu đen với logo Harley–Davidson và có tham gia một vụ ẩu đả. Hai ngày sau, ông ta chết vì bị xuất huyết nội. Tờ Los Angeles Times, viết về cái chết của nạn nhân, đã đăng tiêu đề “Gary Kildall: người có hệ thống phần mềm thất bại về tay đối thủ MS–DOS”. Năm đó, Kildall 52 tuổi. Kildall gần giống một thiên thần đại diện cho những gì tốt đẹp và thuần khiết trên thế giới này – phóng viên Wall Street Journal, Gregg Zachary viết – “Ông kiên trì đến cùng mục tiêu của mình”.

Khi chết, ông ta đã có tất cả. Một chiếc Learjet, tàu, xe gắn máy, ba chiếc Lamborghini, những cuộc đua ô tô ở Monaco, những chiếc xe hơi kiểu cổ điển, một ngôi nhà ở bờ biển Pebble và một ngôi nhà khác ở Austin (bang Texas) – dù người đàn ông này chỉ muốn kiếm sống dựa vào máy vi tính và coi thành công về mặt tài chính như là tai họa chứ không phải là của trời cho. Ông ta uống rượu như sinh viên đại học năm thứ nhất hoặc như người cố làm dịu cơn khát. Một người bạn miêu tả ông là “kẻ thất bại”. Người khác nói rằng việc giàu lên nhanh chóng “đã làm ông mất phương hướng”.

Trong khi đó, ngay từ lúc khởi nghiệp, Gates có mục đích rõ ràng là kinh doanh, chứ không chỉ kiếm sống. Năm 19 tuổi, Gates đã viết trong bức thư mắng nhiếc những người sử dụng bản copy BASIC lậu: “Chẳng gì có thể làm cho tôi hài lòng bằng việc có thể thuê 10 lập trình viên và tấn công vào thị trường máy vi tính bằng phần mềm hữu ích”. Và ông ta đã làm như vậy. Gates không chỉ là kẻ cơ hội, bán những thứ mà trước đây được trao tay miễn phí tại trường đại học, mà còn là người vận hành một dây chuyền bán hàng trên toàn quốc…

(Theo First News)


CSO Cisco: Phần mềm diệt virus là lãng phí vô ích

Tháng Sáu 24, 2008

TTO – John Stewart – Giám đốc bảo mật (CSO) của Cisco - tuyên bố doanh nghiệp đang tốn tiền vô ích cho các quy trình bảo mật như cài đặt các bản sửa lỗi hoặc trang bị phần mềm diệt mã độc… Hiệu quả mà những giải pháp này mang lại không xứng đáng với đồng tiền bỏ ra.

Phát biểu tại Hội nghị AusCERT 2008, ông Stewart khẳng định “ngành công nghiệp mã độc” đang phát triển với tốc độ vượt trội ngành công nghiệp bảo mật. Thực tế này khiến cho việc bảo đảm an toàn cho người dùng trở thành “một nhiệm vụ bất khả thi”. “Nếu như phải bỏ công để cài đặt các bản cập nhật sửa lỗi và phải bỏ tiền để mua bản quyền phần mềm diệt mã độc mà tôi vẫn thường xuyên bị nhiễm virus, trojan, sâu máy tính, vẫn phải tìm giải pháp để làm sạch PC, phải cài đặt lại PC, bỏ công để khôi phục lại dữ liệu… Đây là một công việc hoàn toàn vô nghĩa và tốn tiền vô ích”.

Thậm chí CSO Cisco còn khẳng định việc PC bị nhiễm mã độc đã trở nên “quá quen thuộc” đến nỗi các doanh nghiệp đã học được cách “sống chung với lũ”. “Có rất nhiều doanh nghiệp trên thế giới này cho rằng chi phí bỏ ra để xử lý các PC bị nhiễm mã độc là một phần chi phí kinh doanh và đã thấy quen với việc này. Tôi phản đối quan điểm này. Đây là một suy nghĩ cực kỳ nguy hiểm”, ông Stewart khẳng định.

Giải pháp mà CSO Cisco đưa ra là các doanh nghiệp nên cân nhắc đến việc sử dụng “danh sách trắng” (whitelist) - hay nói cách khác là danh sách những phần mềm được phép chạy trên hệ thống mạng của doanh nghiệp. Giải pháp này có thể sẽ giúp doanh nghiệp chống lại được cả những phần mềm độc hại còn chưa được biết đến. Song không một hãng bảo mật nào đồng ý với quan điểm mà ông Stewart nêu ra.

Chris Thomas - chuyên gia công nghệ của CA Internet Security - cho rằng nếu chỉ sử dụng mỗi phần mềm chống mã độc là không đủ để bảo vệ người dùng. “Bảo mật không phải là một sự lãng phí vô ích. Nếu chỉ có một tần bảo mật thì chắc chắn là chưa đủ. Cuộc chiến giữa giới bảo mật và những kẻ lập trình mã độc là một cuộc chiến không có hồi kết.”

T.DŨNG (ZDNet)


Open Source ERP Projects Activity Trends

Tháng Sáu 23, 2008

One of the most important evaluation criteria for open source ERP is project activity. The Sourceforge graveyard is full of open source projects skeletons. When you measure a projects activity, the most important thing to measure is trends, or the rate of change in the parameters you measure.

In the last few days, I have been collecting data from the Sourceforge statistics RSS. The following graph displayes the number of downloads per day for the most popular open source ERP projects (this is still Beta so numbers might vary):

Please remember that the statistics were not checked thoroughly so actual numbera might vary!.

 

The data in the graph was gathered in the last few days. I think the absolute number of daily downloads is not really important. What important is the relative number of downloads and the daily trends. We can immediately see that Openbravo is the most downloaded software in past few days, followed by Postbooks. Compiere and its spin-off project, Adempiere, have almost identical popularity as far as downloads are concerned- around 200 downloads per day. 

The statistics analysis is still in development but I believe it will be a very important part of Open Source ERP Guru. I will add a separate page to this blog that will display daily open source ERP projects statistics – downloads, forum posts, website popularity,blog buzz and other important metrics. Collecting this information over time will provide valuable insight into the trends of the industry.

The activity trend page will be active within the next couple of days. 

from ERP Open Source ERP Guru


OpenBravo Installation Walkthrough

Tháng Sáu 23, 2008

One of most exciting things about open source ERP software are free downloads. No commercial solution will allow you to just go to their website,click on ‘Download’, go to a Wiki page that gives you step-by-step installation instructions, and then,within an hour or so,you have your own ERP system!

I started my installtion process by visiting Openbravo’s website, although I knew the actual downloads of the Openbravo software were hosted on Sourceforge servers.

The way I see it, if you consider yourself an open source ERP solution, your homepage should have a visible,top-level link called “Download”. Clicking it should take you straight to the download page. OpenBravo did just that – on their homepage,in the top right-hand side, a link to the download page,taking you straight to the Sourceforge download page. Nice!!

 

Before we go to the actual installation,a couple of words about the Openbravo website – looks professional,fairly clean layout,navigation is clear and information is intuitively laid out around the homepage. For an open source project, I am always happy to see news updates on the homepage,indicating the community is active.

Going back to the installation, we need two things – the installation files and an installation guide. Since we decided to install Openbravo on a Linux server,you must get the relevant installation guide. For a windows installation I might have managed without an installation guide (Next,Next,Next,Finished..).

Openbravo will be installed on an Ubuntu 6.06 operating system, which is pretty old. If you choose Ubuntu,go for the latest versions – currently 7.10. The reason I chose Ubuntu Server edition is that it’s completely free,has tons of documentation and user contributions around it, and it’s extremely easy to install software using the apt package management.

My “server” has an old AMD Sempron CPU with 512MB of RAM and a 40GB disk. I am going to run as many open source ERP systems as I can on that monster!!

To download the Openbravo installation, I went to the Sourceforge page and started downloading the ~250MB bin file I’ll use for the installation. Make sure you download the file that best fits your platform -Intel or AMD64. After playing a little with some of the mirrors, I found a German mirror that really rocks. It took about 10 minutes for the entire package to download.

During that time, I started looking for the installation guide for Linux. From the Openbravo homepage,I clicked on the Wiki link, and the beautiful Wiki page showed up. And just as I hoped, right there in the center of the page – “Openbravo ERP command line installation”. Reading through it,I could immedialty understand what components the installation requires other that the actual ERP software installation.

Since this is a Java-based software, you need a Java SDK (the guide recommends Sun’s java), Tomcat as an application server and PostgreSQL as a back-end database. I don’t have much experience with PostgreSQL,but I figured it couldn’t be that different from other DB engines I am experienced with,MySQL in particular. On a side note,it seems that quite a few open source ERP solutions chose PostgreSQL for a back-end database,but MySql has added some features that make it a reliable solutions for enterprise applications – database transaction support,replication,clustering,stored procedures and triggers, all of which were not part of earlier versions of MySql.

Another thing I really liked about the installation guide is that it has installation instructions for many different Linux flavours – Ubuntu and Debian,Gentoo, FreeBSD and Fedora.

Following the installation instruction was very easy, and if you go step by step the installation should just work without any issues.

I did have some issues with the installation because the guide is for Ubuntu 7.10,PostgreSQL 8.2,Java 1.5 and Tomcat 5.5, while I used Ubuntu 6.06,PostgreSQL 8.1,Java 1.6 and Tomcat 5.

I followed all steps and other than minor changes (for example, my PostgreSQL database was running on port 5433 instead of 5432 which Openbravo expected) everything worked like charm. It did take quite some time for the database to build,though – about 1.5 hours on my hardware. The CPU was really working hard, so I assume that with a modern Dual-Core,64bit CPU,OS,Java and database, installation will take much less time.

To summarize, installing Openbravo ERP was a breeze. It’s a great sign for the evolution of open-source ERP solutions – it used to be quite frustrating to install different open source components (database,java,application server, the actual application) and making it all work together, not to mention the days or even weeks it might take to install a commercial ERP software.

from OpenSource ERP Guru


3 Core Business Processes Open Source ERP Must Support

Tháng Sáu 23, 2008

If you go to Sourceforge.net, a website that provides an open source project development platform,and browse to the ERP category, you will find no less than 402 results! That’s quite an amazing number, but if you try to dig in a little bit around that category,you will notice that many projects are actually only CRM (Customer Relationship Management),SCM (Supply Chain Management), accounting or HR applications. They do not fully support the functionality required from a real ERP solutions.

So how would you define an ERP system? My post An Introduction to ERP – Enterprise Resource Planning is a good starting point. If you are interested in implementing ERP in your organization, or are a consultant who is looking into open source ERP solutions,you must make sure the solutions you are considering does support all required businesses processes.

 

There are tens of millions of businesses world wide,each with its own way of conducting business.The real challenge facing open source ERP software developers is to try to develope enough functionality that will cover as many business processes as possible.

Despite the variance in business processes, all commercial organizations have several core business process.An ERP solution must support these process. A software project that does not support there core processes is not a real ERP solution.CRM is not ERP,HR systems are not ERP.

The 3 Core Processes that open source ERP must support out of the box are:

1.Order-To-Cash - The blood flowing through every commercial entity is customers orders. All businesses are exist to make money from selling products (or a service,which can be considered as a type of product in our context). Like other core processes,Order-To-Cash can be broken down into sub-processes – creating a customer and product master records, opening a customer order, allocating stock to that order,picking and shipping,invoicing and finally (hopefully) getting paid. When you go to your local grocery store, the entire Order-To-Cash process can take about 30 seconds from start till end. If you would have ordered an airplane, it might take 10 years until the order was completed.

2.Procure-To-Pay – Unless you found a way to produce products from thin air, you would probably have to get the products you sell from a supplier. There are two types of suppliers – one is external – a vendor, the other one is internal – your production plant. The Procure-To-Pay process refers to the first type. It usually starts with a purchase requisite from one of the departments in your organizations (for smaller companies that step is often omitted), which is converted,after some price and terms negotiation with your vendor, to a purchase order which is sent to your vendor. The vendor,usually upon receiving your order will ship you the ordered products (not necessarily all the products you ordered are shipped to you as it depends on the products’ availability) together with an invoice. The invoice will be paid by your accounting team, and the process will be completed.

3.Make-To-Stock - The other way you might get products to sell to your customers is by producing them. Many companies constantly consider weather they should purchase products from vendors or manufacture them internally. An open source ERP system should support both processes as stand-alone process but should also be able to integrate them. Even if a company is manufacturing all the products it is selling, it will still need to procure raw materials,sub-parts or accessories associated with their products. The Make-To-Stock process will start with purchasing or producing internally the raw materials or components of the finished product,followed by some processing along a route – different processing activities in different work centers,following a pre – determined order,followed by inspection,packaging of the finished goods and either stocking of the finished goods or sending it directly to a customer to fulfill a specific customer order (in that case,the process is often called Make-To-Order).

These 3 core business processes can be broken down further to more granular sub-processes. Also, not all 3 processes are part every companies business activities – banks,for example, do not procure or manufacture their products. Just remember that subject of this article – business processes open source ERP systems must support. If a software package does not support these 3 core businesses,it is not ERP.

from Opensource ERP Guru


Largest Open Source Acquisition Ever – Sun Buys MySQL!

Tháng Sáu 21, 2008

Any news you hear about an open source projects acquisition by one of the large IT vendors brings mixed feelings. The first things you think about is the practical meanings of such a move. MySQL is such an important component of the Internet (it is storing the very words you are now reading..), that the slightest changes in the way MySQL is distributed (currently it’s a completely free,open source project) might cause a real disruption to the growth of information on the Internet.

But the bright side is that if anyone had any doubts, open source again proved it has commercial value, 1 Billion dollars worth in MySQL’s case. MySQL was making money from service and consulting, a strategy that has seen wide adoption in many open source projects, especially in business open source solutions. Large organizations identify the benefits of open source software solutions and are willing to put the money they save in license costs into consulting. MySQL also offered Enterprise versions of its software for additional costs.

I have been using MySQL for over 10 years now. The first web application I built was a web statistic service, aka Google Analytics. I used PHP for the logic and MySQL as a database to store site visitors statistics. MySQL’s popularity has increased dramatically since then,in parallel to PHP and dynamic web applications. MySQL is one of those companies that recognised early on a need in the market (scalable, efficiency storage and retrieval of huge amounts of data), stayed close to its users and community and just created a great product.

I disagree with some of the skepticism raised over the money (1B$) Sun paid for MySQL. Sun is now in a unique position going after large IT budgets. Sun is the only IT vendor that can offer robust,trusted hardware and operating system (Sun Solaris) bundled with the worlds most popular database (MySQL), a development environment (J2EE) and an application server (GlassFish, another open source project). It’s a huge advantage for Sun to be able to go to a CIO of a Fortune 500 company and offer that bundle to run business applications. Sun Solaris is very popular among large organization for running mission critical,high volume applications, which usually run an Oracle database. Sun can now offer MySQL at the fraction of the cost of an Oracle database software.

Sun’s offering is now huge, but not perfect. What is Sun missing? Business applications. Is open source ERP next?

from Opensourceerpguru.com


Why Open Source ERP?/ Lý Do Sử Dụng ERP Mã Nguồn Mở

Tháng Sáu 21, 2008

One of our readers, Chris, commenting on Open Source ERP Activity Trends, had some very good questions and I decided to answer them, one by one, in a dedicated post.

Q: Is Opensource integral to the success of companies like Compiere and Openbravo, or is it more a marketing tool?
A: I’ll start by answering the latter part of the question – definitely NO!, it’s not a marketing tool. All open source projects start with a genuine intention of making things better. Programmers grouping together to write a piece of software for no money, usually in their spare time (after working 10 hours for their commercial employer) don’t think about marketing. They only think about writing the smartest,cleanest,coolest software ever written. And many such projects yield some the best software ever written – the Linux kernel, The Apache web server,the Firefox browser.
Is open source integral to the success of these open source ERP companies? My answer would be that it’s just a different business model. These companies can start hiring programmers and stop publishing the source code, but then they would have to play head-to-head with the big sharks and that won’t be easy. I don’t see any open source ERP vendor completely abandon the open source model.

Q:Who are the people writing the Open Source?
A: Open source software is written by programmers who voluntarily join a project they find interesting and contribute their own code. Usually there is a “core team”, most likely the programmers who started the project, who are project administrators. They make sure all code from different programmers is in sync, they design the software architecture and build the projects’ roadmap.
In most projects you will find programmers from all over the world,many of them collage students or employees of the world’s largest software companies.

Q:It’s not the CTOs of SMEs, so is it the ERP partners?
A: I hope I understand this question correctly, but I think what you are asking about is customization. Open source ERP projects deliver a product with a certain set of functionality, but since business requirements are so complex and rate of change is so high, almost every company using ERP will have to customize it to meet their needs. The project itself obviously cannot write the code to support all requirements.
Who is doing this customization? If the company implementing ERP has an in-house IT department, they will need a business analyst to define business requirements and some programmers to write the actual customization. Many SMEs do not have in-house IT, so they would need to find an implementation partner. Some open source ERP solutions have a list of certified partners on their website, although due to the fact that the source code of these solutions is available to download, it is possible for any outsourcing company who has programmers familiar with the programming language the solution is written in (currently, Java is most popular) to customize open source ERP solutions.

Q:How does being Opensource translate into a concrete competitive advantage for these ERPs?
A:To answer that, I will raise the main arguments open source ERP companies are raising and will provide my own opinion on their validity:
Open source ERP will release you from the single vendor tie-up familiar from commercial ERP projects – since organizations pay so much money in licensing fees for commercial ERP solutions (sometimes up to millions of dollars a year), switching from their current ERP provider to another one is almost impossible. I believe that an SME who has invested his money in customizing a certain open source ERP solution is in the same position as his commercial ERP user counterpart – he will not easily switch to a different provider. Even if the level of investment in an open source ERP is smaller, I think that deciding to throw away that investment is a very tough decision.
Giving the software away for free will save the cutsomer money he can later put into customizing and implementation costs – This is one the of the strongest arguments for open source ERP. I think everyone – customers and the software companies-understand that free,open source ERP is not really free. You will need to invest money in customizing the software. This implementation project will be where your money will go. If you don’t pay for a product license and invest heavily in implementation, you can get a much higher ROI on your ERP project.
Open source projects create higher quality products – That is of course a generalization, but there are factors you can’t disregard in these type of project. The most important thing in open source projects is the community. Other than the programmers who write the actual code, there is a much larger group of people who contribute to the success of the project – people who download and install the software write installation and configuration guides. Many bugs are found by users who just wanted to “play around” with the software. Some volunteer to write Wiki pages,explaining how to use the software.
Active project programmers will often answer questions posted in forums (if you are a customer of a commercial ERP solution,there is very little chance you will get an answer directly from the programmer who wrote the code..). In addition, open source projects employee some very good programmers, all of them are highly motivated and enthusiastic about what they are doing (they do it for free..).
These factors contribute to the creation of very high quality products.
One note – I have created the open source ERP Activity Trends page because I believe there is a direct correlation between the level of activity of the project’s community and the quality of the product. I plan to add some more metrics within the next few days.
I hope I answered Chris’ questions well. I would be glad to get comments from anyone reading this post on his view of the issues raised here.

from Opensource ERP Guru


Open Source ERP Solutions To Consider

Tháng Sáu 11, 2008

If you read my post 3 Core Business Processes Open Source ERP Must Support you already know that there are at least 402 open source software projects listed as ERP solutions in Sourceforge. You also know what are the core scenarios a real ERP solution should support.
One of Open Source ERP Guru’s main objectives is to provide valuable information for companies looking into ERP solutions in general and open source ERP solutions in particular, and the first thing to do is to narrow the list of 402 down to a more manageable number.

The following is a list of open source ERP solutions that can be called ‘true’ ERP, are open source and (at least partly) freely available:

Compiere- Probably the most commercially successful open source ERP solution on the market today. It’s been around for a few years now (I remember visiting their website a couple of years ago, all the graphics was sketched) and successfully developed a large ecosystem around the product – training,documentation and most important, world-wide partners.They were also able to raise some funding (I think it was 6M$). For any ERP project,establishing a strong,global network of implementation partners is crucial for success.

There are a couple of issues that have to be raised in regards to Compiere and open source – since they started developing their product,they relied solely on Oracle’s database software. Oracle’s database is not open source and is not free. For hardcore open source devotees, if you write an open source software that relies on non open source components, you are not open source.

If we put the philosophical argument aside, the biggest challenge is,if you decides to implement Compiere,additional costs are incurred due to the Oracle license. Luckily for Compiere,Oracle released a free version of its database software – Oracle Express Edition (XE). It’s a lightweight version of Oracle’s commercial database, but you can use it with Compiere to save licensing costs. However, if you are going for a large implementation, I would doubt if you could use the XE edition, meaning you would have to buy an Oracle license.

Another issue with Compiere and open source is that it seems like Compiere lost touch with it’s developers communityand is becoming more and more commercial minded,less community driven. This caused the spin-off project Adempiere. One of the most important differentiators between commercial software and open source software is is community contribution. It seems that Compiere is now a hybrid between open source and commercial product.

Openbravo- One of the most promising open source ERP solutions available today. Its a web-based software(running on top of Tomcat web application server) ,with a global network of partners. Openbravo presence is very strong in Spain and looks to become global ,starting mainly with other European countries. Like other mature open source ERP solutions,they offer paid services – training,custom development and consulting. They are a ‘true’ open source software – all software components are free,they support Postgresql database which is open source,run on various Linux platforms. They seem to have an enthsuastic community around their offering.

Opentaps- Opentaps is built on top of Apache OFBiz- Apache Open For Bussiness framework. Opentaps is a relatively young project,with version 1 recently released, but is built on strong foundations.
Being a young offering has its advantages – modern technologies are incorporated from day 1, where older,more mature solution might find it difficult to integrate new technologies. In Opentaps’ case, the most significant advantage is using service oriented architecture – all functionally in the underling OFBiz framework is implemented using services. This is a very modern approach as to how business software should be built,enabling maximum flexibility for business process integration.

Opentaps is written in Java (as does OFBiz) and runs on all popular database servers,including the most widely used free,open source database – Mysql.

Adempiere- A spin off of Compiere, the vibrant community of Admepiere took it upon itself to release a ‘true’ open source Compiere version. The first thing they did was to add support for an open source database – Postgresql. Then they built a passionate community around the project , offering documentation,how-to guides,consulting services and free add-on software components.

Postbooks- The open source version of Xtuple’s OpenMFG is a C++ project. Because of its origin, it seems to shift away from manufacturing and focus on accounting, probably as a complementary product to OpenMFG. The commercial version(OpenMFG) Xtuple is selling can provide strong financial support to allow further development of the open source version. However, it is sensible to assume that if a software vendors develops two versions of similar software products,it will try to minimize redundant efforts around the same functionality. That means that it is likely that OpenMFG will remain focused on manufacturing while Postbooks will evolve to an accounting oriented solution.

Neogia- Another OFBiz based ERP solution, meaning service-oriented architectures from the grounds up. It still seems to be lacking in support and consulting partners and documentation is limited, some of which is only available in French. It does have a lot of buzz around it,with more than 30 developers currently working on the project.

We will provide detailed analysis and comparison of these solutions in coming posts.

There are other open source ERP solutions out there – ERP5, OpenPro, TinyERP and others. I did not list them with the others because they are not developed under Sourceforge or any other public development platform. For me, that indicates a certain level of ‘closeness’, as opposed to the whole ‘openess’ concept of open source software. That does not mean that these solutions are not open source,nor does it amply that they are not as good as other solutions.

from Open Source ERP Guru’s


10 Evaluation Criteria for Open Source ERP

Tháng Sáu 11, 2008

Due to the complexity of ERP projects,there are many factors which have to be considered before deciding on which ERP solution to implement.We have chosen the 10 most important evaluation criteria,which we will use in our open source ERP comparison benchmark matrix.

1.Customization Complexity- No matter how comprehensive an ERP solution is,customizing the software is inevitable. Open source ERP solutions are particularly easy to customize,since the source code is freely available. Also,these solutions are written in popular,widely used computer languages such as PHP and Java.It is also important to evaluate how easily customized code is migrated during software upgrades.

2.Functionality – All ERP packages are expected to support core business process. For example,creating customer,vendor and products master records, maintaining customer orders and sending invoices are integral parts of ERP systems. Besides core processes, ERP solutions vary widely. One ERP solution might be very good at managing manufacturing operations, while another one will have a robust accounting module.It is vital to identify the unique strength of each open source ERP solution and decide which one fits your business requirements best.
3.User Experience – Although many older ERP solutions do not pride themselves in their user experience, modern technologies make it much easier to build pleasant user interfaces,making it easy for users finding information and connecting it to the business process they are managing in the ERP information system. User interfaces should be clean,clear,intuitive,offer context-based help,enabling users to be as efficient as possible in their daily tasks.

4.Development Activity – Unfortunately, many open source projects do not last many years. That is true,of course, for non open-source software as well-smaller software companies are bought and products are discontinued, software vendors go bankrupt and support and maintenance companies discontinue operations. The good news is,since the products are open source,the source code is available and you can continue developing the product to fit your specific needs even if the official development of the project stopped. However, in any given open source project,developers activity might vary over time, effecting rate of bug fixes and new features development. It’s important to consider the development activity in the months prior to the time the decision about the open source ERP solution is made.

5.Knowledge – A key succes factor in any kind of information system implementation is knowledge around the product. Too often, great software products are not successful because there are not enough professionals who know how to implement the product. That is especially true for ERP implementations – the complexity of the project and the varying requirements from one project to another requires strong knowledge of the ERP software being implemented.New open source ERP solutions do not always have enough experienced consultants that can help customers bring out the highest possible Return On Investment.

6.Production-readiness – We use the term production readiness as a placeholder for a set of requirements that has nothing to do with functionality,but are of equal importance to any business software -performance,ability to scale to large numbers of records,high availability options,recovery procedures in case of system or database crash,security features,user management and access control. These are often the factors that differentiate mature open source ERP solutions from others. Production readiness is commonly overlooked, especially by small and medium companies,since the volume of transactions and data stored in the ERP system is relatively small.Hopefully, an ERP system will help the business grow to a point where this issues will rise – suddenly, creating a new customer orders or displaying an inventory report takes 10 seconds instead of 1 second,system availability is not 100% or the system shuts down because the database is full.You must consider early on future growth rates,allowed downtimes,cost of lost data etc.

7.Integration – Every ERP project requires integration.The open source ERP solution you will use will need to communicate with other software systems – mail servers,spreadsheets,your vendors’ ordering system,your shipping companies’ software.In commercial ERP solutions, the integration is handled by middleware – usually a huge bundle of software components that manage that integration.An open source ERP can never provide that level of integration support.What it can do is use standards which are supported by other software vendors to enable painless integration. For example,using XML files to import and export data such as customer and product records is the de-facto standard in data exchange. Exposing functionality as web services and being able to consume web services from other systems is also becoming increasingly popular.

8.Migration – The first step of most ERP projects is migration. For large ERP implementations,that step can take months if not years. For smaller companies implementing open source ERP solutions,the amount and complexity of data to migrate from older systems to the new ERP system is much smaller. Still, a poor migration can bring an ERP project to failure. Open source ERP solutions should provide a flexible migration component,allowing import of data from multiple sources(text files,csv,excel files,database files),a validation layer,acting as a gatekeeper,stopping low quality data from entering the new system and an exception reporting tool.

9.T.C.O.- Open source is free.Well, not always. Almost all open source products are free to download and use,but some some are not. Also,most are free to download and use-you will still need to customize the software and require some consulting services. There is a long debate between supporters of open source software and commercial software vendors over the question “How much does a free,open source software, actually costs”. You can be sure of one thing – you will save a lot of money on licensing the software itself,money you can invest in customization,consulting,support and maintenance.

10.Community – The open source movement is all about community.A group of people working night and day,spanning multiple time zones,writing large amounts of great code,without being paid! It sounds crazy,but it’s true. All successful open source projects have one thing in common – a thriving,diverse community,supplying everything required to support wide adoption of software-not only development but also documentation, bug reporting and support forums.The larger the community, the higher chances of success for an open source project.

Although there are some other criteria you might want to consider,the list above is a must in your checklist of evaluation criteria for open source ERP solutions.


Cloud computing – cách mạng điện toán giá rẻ nhờ Internet

Tháng Sáu 4, 2008

Các xu hướng giảm chi phí đầu tư cho người dùng và doanh nghiệp như chuyển ứng dụng desktop lên web, điện toán theo nhu cầu, phần mềm dịch vụ SaaS… được gọi chung là điện toán máy chủ ảo (cloud computing).

Cloud computing là gì?

Để kiểm tra phản ứng nhanh nhạy của các ứng viên xin việc, Google chỉ cần đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản: “Bạn sẽ làm gì nếu dữ liệu hiện có tăng gấp 1.000 lần?”. Nếu người xin việc bê nguyên những công thức được “nhồi sọ” ở trường vào tình huống này, họ sẽ biến máy chủ thành những chú ốc sên khi nhân lượng video, ảnh, bản đồ, thông tin mua sắm… lên 1.000.

Bởi thế, để tìm được chỗ đứng ở Google, họ cần học cách làm việc và cả ước mơ ở một cấp độ rộng lớn hơn. Họ phải biết cách đưa khối lượng dữ liệu khổng lồ đó thoát khỏi phạm vi những trung tâm dữ liệu chật chội và đặt chúng ở đâu đó ngoài kia – nơi mà các chuyên gia của Google gọi là “cloud” – những đám mây ảo.

Thuật ngữ “cloud computing” ra đời giữa năm 2007 không phải để nói về một trào lưu mới, mà để khái quát lại các hướng đi của cơ sở hạ tầng thông tin vốn đã và đang diễn ra từ mấy năm qua. Quan niệm này có thể được diễn giải một cách đơn giản: các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm, dịch vụ… sẽ nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong máy tính gia đình và văn phòng (trên mặt đất) để mọi người kết nối và sử dụng mỗi khi họ cần.

Như vậy, cloud computing chỉ là khái niệm hoàn chỉnh cho một xu hướng không mới bởi nhiều doanh nghiệp hiện không có máy chủ riêng, PC chỉ cài một số phần mềm cơ bản còn tất cả đều phụ thuộc vào cloud. Chẳng hạn, họ đăng ký dịch vụ hosting cho website công ty, thuê công cụ quản lý doanh thu từ Salesforce.com, lấy dữ liệu khảo sát thị trường từ tổ chức Survey Monkey… Và tất nhiên, họ dùng Google để tìm kiếm, phân tích, chia sẻ và lưu trữ tài liệu.

Với các dịch vụ sẵn có trên Internet, doanh nghiệp không phải mua và duy trì hàng trăm, thậm chí hàng nghìn máy tính cũng như phần mềm. Họ chỉ cần tập trung sản xuất bởi đã có người khác lo cơ sở hạ tầng và công nghệ thay họ. Google, theo lẽ tự nhiên, nằm trong số những hãng ủng hộ điện toán máy chủ ảo tích cực nhất bởi hoạt động kinh doanh của họ dựa trên việc phân phối các cloud (virtual server).

Tuy nhiên, mặt hạn chế là người dùng sẽ bị phụ thuộc vào công nghệ mà nhà cung cấp đưa ra cho họ, khiến cho sự linh hoạt và sáng tạo giảm đi. Cloud computing có nguy cơ lặp lại khiếm khuyết của mô hình điện toán cũ: các công ty sở hữu những hệ thống máy tính trung ương lớn (cloud) và mọi người sẽ kết nối với chúng qua các trạm. Người sử dụng cảm thấy bức bối vì chỉ có quyền thực hiện những việc trong phạm vi nhà quản trị cho phép nên không thể bắt kịp cải tiến mới nhất. Trước tình hình đó, máy tính cá nhân ra đời và phát triển như là cuộc “phản kháng” đối với sự độc tài của mô hình điện toán trung tâm (nổi tiếng nhất là IBM mainframe).

Nhưng điện toán “đám mây” hiện mở hơn rất nhiều và quan trọng hơn, đây là giải pháp giá rẻ của các doanh nghiệp cũng như sự lựa chọn hàng đầu cho những ai thường xuyên phải đi xa nhưng không có laptop riêng. Ngay cả những hãng có năng lực tài chính cũng đánh giá cao xu hướng này, như Coca-Cola gần đây đã ký thỏa thuận đưa tất cả tài khoản e-mail của họ (khoảng 75.000) lên dịch vụ trực tuyến Microsoft Exchange Online.

Các nhánh của cloud computing

Phần mềm hoạt động như dịch vụ (SaaS – Software as a Service)

Với loại cloud computing này, một phần mềm sẽ được phân phối qua trình duyệt tới hàng nghìn khách hàng. Về phía người sử dụng, SaaS đồng nghĩa với việc họ không cần đầu tư tiền bạc cho máy chủ và bản quyền phần mềm. Còn đối với nhà cung cấp, ví dụ như Salesforce.com, họ chỉ phải duy trì một ứng dụng chung cho nhiều đơn vị nên chi phí rẻ hơn so với kiểu hosting truyền thống.

Điện toán theo yêu cầu (Utility Computing)

Hình thức kinh doanh đã xuất hiện từ lâu này đang được thổi một luồng gió mới từ Amazon.com, Sun, IBM và một số công ty cung cấp kho lưu và máy chủ ảo theo nhu cầu khác. Hiện đa số doanh nghiệp coi utility computing như một giải pháp bổ sung, phục vụ những công việc không mang tính trọng tâm. Nhưng về lâu dài nó sẽ thay thế một phần trung tâm cơ sở dữ liệu.

Dịch vụ web (Web service)

Liên quan mật thiết đến SaaS, web service cung cấp giao diện lập trình ứng dụng (API – Application Programming Interface), như API của Google Maps, qua Internet để các chuyên gia phát triển phần mềm có thể khai thác tính năng.

Nền tảng như một dịch vụ (PaaS – Platform as a Service)

Đây cũng là một biến thể của SaaS nhưng mô hình cloud computing này mang đến môi trường phát triển như một dịch vụ: bạn xây dựng ứng dụng chạy trên cơ sở hạ tầng của nhà cung cấp và phân phối tới người dùng qua máy chủ của nhà cung cấp đó. Bạn sẽ không hoàn toàn được tự do bởi bị ràng buộc về thiết kế và và công nghệ. Một số ví dụ điển hình về PaaS là Force.com của Salesforce.com, Google App Engine, Yahoo Pipes…

Dịch vụ quản lý (MSP – Managed Service Provider)

MSP – hình thức cloud computing lâu đời nhất – là ứng dụng chủ yếu dành cho giới chuyên môn hơn là người dùng đầu cuối, chẳng hạn dịch vụ quét virus cho e-mail hay chương trình quản lý desktop. Một số nhà cung cấp nổi tiếng là SecureWorks, IBM, Verizon và Everdream.

Điện toán tích hợp (Internet integration)

Quá trình kết hợp các “đám mây” xuất hiện trên Internet mới đang ở giai đoạn đầu. Nhà cung cấp SaaS Workday gần đây đã sáp nhập vào một công ty khác trong cùng lĩnh vực này là CapeClear. Mục tiêu của họ cũng giống hãng Grand Central là trở thành cổng kết nối các cloud nhằm mang đến những giải pháp tích hợp cho khách hàng.

Với mô hình cuối cùng này, điện toán cloud computing về sau sẽ được mô tả như là sky computing: Internet giống như bầu trời chứa nhiều đám mây dịch vụ riêng lẻ cho khách hàng dễ dàng kết nối.

Hải Nguyên


Tài Liệu Hướng Dẫn Cài Đặt/ Sử Dụng Open Bravo ERP

Tháng Sáu 1, 2008

Download tài liệu hướng dẫn cài đặt/ sử dụng OpenBravo tại đây:

.hướng dẫn cài đặt: openbravoerp_installationguide

.hướng dẫn sử dụng: openbravoerp_usermanual

Để download chương trình Openbravo ERP (khoảng 250MB), bạn hãy vào www.openbravo.com, lưu ý sử dụng phần mềm hỗ trợ download như Internet Download Manager hoặc Flashget để tránh sự cố rớt mạng trong quá trình download.


Chọn mã mở hay đóng phải tính nhu cầu và khả năng

Tháng Năm 6, 2008

Mã mở và đóng sẽ tồn tại song song vì chúng tạo nên sự cân bằng của công nghệ cũng như thị trường. Các chuyên gia trong nước nhận định nếu chọn nguồn mở làm hướng phát triển phải tính đến: khả năng kinh tế, nguồn nhân lực có trình độ và dịch vụ đi kèm. 

Từ rất lâu, cuộc tranh cãi giữa giới ủng hộ mã nguồn mở và phe chuộng phần mềm thương mại đã nổ ra, để rồi kéo dài cho đến không biết bao giờ. Diễn đàn bạn đọc viết tại VnExpress cũng chứng kiến những tranh luận dường như bất tận về đề tài này với nhiều quan điểm, dẫn chứng, phản biện… Người cho rằng Linux là một cuộc chơi đầy hào hứng hay mã mở có thể đánh bại mã đóng trong tương lai. Người khác lại ví Linux như đối thủ cạnh tranh lập dị… Và cũng có bình luận rằng thật thô thiển khi so sánh Windows và Linux.

Trong buổi thảo luận về ứng dụng phần mềm nguồn mở tại cơ quan Đảng và nhà nước do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức hôm 28/4, nhiều chuyên gia đã nhận định tính chất của công nghệ không phải là điều quyết định cho sự phát triển và hiện đại hóa của một tổ chức hay doanh nghiệp. Vấn đề quan trọng là đơn vị đó phải biết mình muốn gì, cần gì và công nghệ nào là phù hợp với khả năng tài chính, năng lực của mình để lấy đó làm định hướng.

Nhìn từ góc độ thị trường, mã nguồn đóng có một vị trí rất tốt vì dựa trên giá trị thương mại. Lợi nhuận thu về là là minh chứng bảo đảm cho sự tồn tại của xu hướng này. Nhưng khi nguồn mở xuất hiện đã tạo nên sự cân bằng cả về mặt công nghệ và thị trường. Nhờ có hai đối tượng tồn tại song song song đó, người sử dụng được đặt ở một điểm cân bằng trong lựa chọn.

“Nếu cứ bàn luận về giá trị công nghệ thì câu chuyện này sẽ mãi chẳng đi tới đâu. Làm việc trong cả môi trường mã mở và đóng, tôi thấu hiểu rằng đối với đơn vị kinh doanh, lợi nhuận là điều quan trọng và vì thế phần mềm thương mại với công nghệ đã được kiểm chứng, dịch vụ trọn gói… sẽ là lựa chọn đầu tiên để đảm bảo sự an toàn cho tất cả các giá trị đầu tư”, ông Hoàng Ngọc Hùng, Tổng giám đốc CMCsoft, phân tích. “Nhưng ngược lại, trong một số mảng thì giá trị của mã nguồn mở cũng có thế mạnh không thể phủ nhận. Suy cho cùng, sự phù hợp trong đầu tư chính là giá trị mà mỗi đơn vị lấy làm thước đo lựa chọn công nghệ”.

Ứng dụng phần mềm nguồn mở là một phần của Đề án tin học hóa hoạt động trong các cơ quan Đảng (Đề án 47). Theo ông Vũ Duy Lợi, Phó giám đốc Trung tâm CNTT thuộc Văn phòng trung ương Đảng, giai đoạn triển khai 2001- 2005 đã có những thành công nhất định như: hạ tầng kỹ thuật IP sử dụng bộ giao thức TCP/IP, được tích hợp trong Linux, cung cấp các dịch vụ hệ thống cơ bản, tối thiểu là đăng nhập từ xa (Telnet), truyền tệp FTP, DNS, e-mail, web, ủy quyền… phát triển hệ thông tin điều hành tác nghiệp eDocman dùng chung… Giới chuyên môn đánh giá kết quả đó có thể gọi là sự thành công.

Trong khi đó, dự án tổng thể ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt Nam (giai đoạn 2004-2008) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến nay gần như không có kết quả đáng kể nào.

“Các đơn vị thuộc bộ ngành và địa phương triển khai ứng dụng nguồn mở rất chậm. Trong các tiểu dự án cũng chỉ có hoạt động của Bộ Thông tin và Truyền thông về xây dựng chính sách là tích cực, còn lại đều mang tính phong trào”, ông Nguyễn Trung Quỳnh, đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, thừa nhận. “Nếu 3 năm nữa, các đơn vị này làm được bên Đảng thì cũng là thành công lắm rồi. Cá nhân tôi cho rằng để ứng dụng nguồn mở cần có lộ trình và làm từng bước với tham vọng vừa phải”.

Sự lúng túng khi đứng trước lựa chọn công nghệ, hoặc ứng dụng không hiệu quả được lý giải là do con người chưa làm chủ được chính công nghệ đó.

“Đối với mã mở thì cũng phải tính đến số tiền trong túi của mình, rồi khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực khi đầu tư vào khu vực đó, chi phí vận hành hệ thống sau khi đã triển khai xong và cuối cùng là vấn đề bản quyền”, ông Hoàng Ngọc Hùng khẳng định.

“Không có công nghệ nào hoàn hảo mãi mãi. Hơn nữa, mã mở hay mã đóng đều phải trả tiền. Xu hướng phát triển nguồn mở theo hướng dịch vụ đã chứng minh điều đó”, ông Nguyễn Văn Hiền, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc iNET Solutions, nói. “Nguồn lực sẽ quyết định lựa chọn công nghệ. Nhưng giá trị và sức mạnh trong phần mềm nguồn mở sẽ cho ta một nền kinh tế tri thức mở”.

Nguyễn Anh


Giới thiệu chung về phần mềm Quản lý Doanh nghiệp (ERP) nguồn mở

Tháng Năm 2, 2008

Bộ phần mềm Quản lý Doanh nghiệp ERP là gì

Một doanh nghiệp thường bao gồm nhiều bộ phận khác nhau hoạt động cho một mục tiêu chung: chế tạo, bán hàng, marketing, mua sắm vật tư, kế hoạch, quản lý kho, vận chuyển, phân phối, bảo trì,…

Thay cho các phần mềm riêng lẻ của từng bộ phận, bộ phần mềm Quản lý Doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning – ERP, cũng còn gọi là Enterprise Management System) tích hợp tất cả các hoạt động nghiệp vụ của các bộ phận trên trong một hệ thống phần mềm chung chạy trên mạng. Mỗi bộ phận có mođun phần mềm nghiệp vụ riêng của mình nhưng trao đổi được dữ liệu cho nhau, thực hiện các quy trình nghiệp vụ theo các dòng công việc chung từ bộ phận nọ sang bộ phận kia như một thể thống nhất trên mạng máy tính.

Các chức năng chính của bộ phần mềm ERP:

  • Quản lý Khách hàng và đơn đặt hàng (Customer and Order Management).
  • Quản lý Mua sắm (Purchasing Control).
  • Lập Kế hoạch sản xuất (Production Schedule).
  • Lập và quản lý danh mục thành phẩm, bán thành phẩm (Ingredient List)
  • Quản lý Kho (Inventory Management).
  • Giao tiếp với hệ thống bảo trì, bảo hành (Interface with CMMS system)
  • Báo cáo và Phân tích (Reporting and Analysis)
  • Tích hợp với hệ thống Kế toán (Integration with Accounting System)
  • Quản lý tiền lương (Payroll)
  • Quản lý Nhân sự (Human Resources)

ERP lớn và phức tạp như vậy nên cũng khó đưa vào ứng dụng nhất. Khi ứng dụng, yêu cầu lớn nhất và phức tạp nhất là customize phần mềm theo đặc thù hoạt động của doanh nghiệp. Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi và do đó hệ ERP cũng phải thay đổi theo liên tục. Nếu dùng các hệ ERP lớn, hiện đại và tinh vi như Oracle E-Business Suite hoặc SAP thì việc thay đổi đó phải do các công ty chuyên ngành đảm nhiệm, khách hàng không làm chủ, kiểm soát được phần mềm. Các phần mềm này cũng lớn và đắt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó với tới được.

Vì vậy, trong một bài báo gần đây, tạp chí CIO dành cho các giám đốc thông tin cho rằng trong 3-5 năm tới đây, công nghệ phần mềm ERP nguồn mở sẽ là một trong những công nghệ mới nổi đáng chú ý nhất. Một bài báo khác của tạp chí ComputerWorld cũng cho biết các doanh nghiệp vừa có xu hướng chuyển sang dùng các hệ ERP nguồn mở.

Lý do? Khách hàng có thể làm chủ công nghệ và chủ động tùy biến theo ý mình, phù hợp với các đặc thù của doanh nghiệp và đáp ứng được các thay đổi, phát triển liên tục của doanh nghiệp.

Danh sách các bộ ERP cả nguồn mở và nguồn đóng có thể tham khảo tại đây. Dưới đây, ta xem qua một vài phần mềm nguồn mở ERP (Google search “open source erp”) để có khái niệm. Những phần mềm giới thiệu dưới đây chỉ để tham khảo. Người dùng phải tự tìm hiểu, dùng thử, lựa chọn theo danh sách giới thiệu ở trên hoặc search trên Internet.

Openbravo

Openbravo là bộ phần mềm ERP nguồn mở dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Có hai phiên bản: bản nguồn mở miễn phí (Community Edition) và bản thương mại (Network Edition, 10.000 ơrô một năm). Bản miễn phí có các công nghệ mới nhất nhưng không tin cậy, ổn định bằng bản thương mại và không có hỗ trợ chính thức của hãng.

Các chức năng chính như sau:

1- Quản lý dữ liệu tập trung (Master Data Management)

Dữ liệu sản phẩm, các bộ phận, danh mục vật tư, khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, v.v…

Mọi dữ liệu của công ty được quản lý tập trung, đảm bảo không thừa, không thiếu, không trùng lắp và cung cấp cho đúng người, đúng lúc cần thiết.

2- Quản lý mua sắm (Procurement Management)

Đơn giá, đơn hàng, phiếu nhận, hóa đơn, kế hoạch mua sắm và thanh toán, v.v…..

Openbravo xử lý toàn bộ thông tin của quá trình mua sắm một cách tập trung, thống nhất. Mỗi hồ sơ trong quá trình đó chứa các dữ liệu của hồ sơ trước, tránh nhầm lẫn do nhập dữ liệu nhiều lần. Do đó có thể lần theo từng hồ sơ theo thứ tự thời gian của quy trình mua sắm (phiếu đặt mua, phiếu nhận hàng, hóa đơn, thanh toán) và biết được tình trạng hiện tại (chờ giao hàng, đã nhận, đã xuất hóa đơn, v.v…). Bộ phận kế toán sẽ luôn có số liệu cập nhật và tin cậy.

3- Quản lý kho (Warehouse Management)

Các kho và khu vực trong kho, các lô hàng, serial number, nhãn, phiếu nhập và xuất kho, lưu chuyển giữa các kho,….

4- Quản lý dự án và dịch vụ (Project and Service Management)

Các dự án, các giai đoạn của dự án, các công việc, nguồn tài nguyên, ngân sách, chi phí, …..

5- Quản lý sản xuất (Production Management)

Bố trí chung nhà máy, các kế hoạch sản xuất, danh mục vật tư, báo cáo tiến độ, chi phí sản xuất, sự cố, v.v….

6- Quản lý bán hàng và khách hàng (Sales Management and Customer Relationship Management – CRM)

Biểu giá, lãi suất, đơn hàng, khối lượng, chiết khấu, vận chuyển, xuất hóa đơn, hoa hồng, …..

7- Quản lý tài chính (Financial Management)

Các tài khoản, ngân sách, thuế, tài khoản phải thu, phải trả, bảng cân đối, tài sản cố định, …..

8- Quản lý tình hình doanh nghiệp (Business Intelligence)

Các báo cáo chi tiết và tổng hợp, phân tích tình hình chung, các thông tin hỗ trợ quyết định cho lãnh đạo…

Compiere

1- Quản lý tình hình doanh nghiệp (Performance Management & Reporting)

Compiere có 4 dạng báo cáo khác nhau: báo cáo truy vấn, báo cáo tiêu chuẩn (dạng in ấn), báo cáo tài chính và báo cáo tình hình tài khoản. Có thể thiết lập và lấy báo cáo từ nhiều sơ đồ kế toán khác nhau. Có thể thiết lập các giai đoạn báo cáo khác nhau. Các số liệu báo cáo đều dựa trên một kho dữ liệu chung.

2- Quản lý mua sắm (Purchasing)

Các công đoạn của quá trình mua sắm đều được quản lý và tự động hóa ở mức tối đa có thể.

3- Quản lý vật tư (Materials Management)

Quản lý sản phẩm, biểu giá, phiếu nhập kho, xuất kho, vận chuyển, chi phí vật tư cho sản xuất, ….

4- Quản lý sản xuất (Manufacturing)

Lập kế hoạch và theo dõi sản xuất

5- Quản lý đơn hàng (Order Management)

Quản lý các công đoạn lập bảng chào giá, quản lý các đơn đặt hàng, xuất hóa đơn và thu tiền. Môđun này tích hợp chặt chẽ với quản lý vật tư và quản lý khách hàng.

6- Quản lý tài chính (Financial Management)

Chương trình kế toán nội bộ doanh nghiệp

7- Quản lý dự án (Projects)

Quản lý các dự án sản xuất, kinh doanh và các công việc trong doanh nghiệp

Song song và tích hợp với chương trình ERP là chương trình Quản lý Khách hàng (Customer Relationship Management – CRM). Chương trình này có 3 môđun là Quản lý bán hàng (Sales), Quản lý dịch vụ (Service) và Thương mại điện tử (eCommerce).

Compiere gồm 3 phiên bản: Community Edition (miễn phí), Standard Edition (25USD/1user/1năm) và Professional Edition (50USD/1user/1năm).

Sự bất đồng giữa cộng đồng nguồn mở và ban lãnh đạo công ty Compiere dẫn đến hình thành dự án nguồn mở Adempiere năm 2006, một nhánh tách ra từ Compiere. Đây là một dự án bao gồm cả ba hệ phần mềm Quản lý Doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning), Quản lý Khách hàng (Customer Relationship Management) và Quản lý Hệ thống Cung cấp ( Supply Chain Management).


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.