Hàng may mặc Trung Quốc dễ mua, dễ bán

Tháng Một 20, 2010

SGTT – Ghi nhận từ thực tế ở các điểm bỏ mối và chợ sỉ, hàng Trung Quốc chiếm ưu thế. Trên các con đường bán hàng thời trang như Nguyễn Trãi, Lê Văn Sỹ, Cách Mạng Tháng Tám… hàng Trung Quốc là dễ tìm thấy nhất.

Người dùng dễ dàng tiếp cận hàng Trung Quốc với các kiểu dáng cập nhật thời trang, điều mà doanh nghiệp trong nước chưa làm được. Ảnh: A.Q

Quan sát ở các shop chuyên bán hàng thời trang cho tuổi teen và giới trẻ như Sóng Nhạc, A Chảy, Sành Điệu, Hot Girls… mỗi shop có đến vài trăm kiểu quần – áo – váy theo mốt mới đang thịnh hành trên các catalogue, trang web, tạp chí thời trang. Đa phần là hàng nhập từ Trung Quốc.

Nơi vắng bóng hàng nội

Bà Hiền, chủ sạp bán sỉ ở chợ An Đông cho biết, hàng nội không có mẫu cho tuổi teen. Những kiểu áo dài, áo bí, áo đầm cổ sơmi, áo thun nối tay nối cổ hay áo thun pha vải với sợi dệt len… chỉ mua được ở các đầu mối bán hàng nhập. Hàng nhập từ Hàn Quốc số lượng về ít, giá khá cao (giá sỉ bình quân 300.000 – 500.000 đồng/chiếc), hầu hết là hàng nhập từ Trung Quốc. Hàng Trung Quốc về nhiều mẫu, giá lại chỉ khoảng 120.000 đến dưới 250.000 đồng, các shop có thể bán lẻ giá 200.000 – 300.000 đồng rất dễ tiêu thụ.

Đọc tiếp »


Trung Quốc đang mất vị thế “công xưởng” thế giới

Tháng Sáu 14, 2009

(Dân trí) – Khoảng 3 năm trước, chi phí sản xuất hàng hóa tại Trung Quốc thấp hơn Mêhicô 5%. Đến nay, chi phí này đã cao hơn tới 20% và Mêhicô đang trở thành trung tâm sản xuất mới hấp dẫn hơn Trung Quốc.

chinaandmexico

Tại một triển lãm giới thiệu xe hơi của Trung Quốc.

Là giám đốc quản lý sản xuất khu vực Bắc Mỹ của hãng cung cấp phụ tùng ô tô Takata của Nhật, ông Fred Heegan đã từng chịu áp lực chuyển công việc sản xuất sang Trung Quốc.

Thế nhưng khi một khách hàng nói đến một phụ tùng Trung Quốc giá rẻ hơn, ông Heegan sẽ nói đến những thách thức về chất lượng, vận tải và kỹ thuật tại đây. Ông cho biết việc chuyển sản xuất sang Trung Quốc tiềm ẩn một số chi phí ngầm.

Theo Công ty Alix Partners, chuyên nghiên cứu và tư vấn trong lĩnh vực thuê gia công, lợi thế của Trung Quốc trong một số lĩnh vực sản xuất đã giảm đi nhiều. AlixPartners cho biết năm 2005, khi hàng sản xuất từ Trung Quốc cập cảng Mỹ, giá thành thấp hơn 22% so với chi phí sản xuất tại Mỹ. Vào thời điểm cuối năm 2008, khoảng cách giá cả này chỉ còn 5,5%, một mức không đủ hấp dẫn để chuyển công việc sản xuất đi nửa vòng trái đất.

Khi so sánh với Mêhicô, mức tương quan chi phí này còn gây ngạc nhiên nhiều hơn. 3 năm trước, chi phí sản xuất hàng hóa tại Trung Quốc thấp hơn 5% so với Mêhicô thì đến nay, chi phí này đã cao hơn tới 20%. So sánh với Mỹ, mức tiết kiệm chi phí tại Mêhicô lên tới 25% từ mức 16%.

Đọc tiếp »


Khi Thương Lượng, Cần Nhớ…

Tháng Năm 8, 2008

Ngày nay, mọi lĩnh vực đều cần đến sự thương lượng. Do vậy, lợi ích của việc trở thành một người có khả năng thương lượng càng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Kỹ năng thương lượng thường không được đào tạo chính thức, cho dù chúng ta sử dụng những kỹ năng này hàng ngày. Những kỹ năng này rất cần thiết cả trong cuộc sống cá nhân và trong nghề nghiệp. Dù chúng ta điều hành một công ty lớn hay nhỏ, thì chúng ta phải truyền đạt và thuyết phục một cách hiệu quả.

Vậy thương lượng là gì? Thương lượng có thể được giải thích một cách đơn giản là “làm việc với người khác để giành được một kết quả có lợi”. May mắn là, đây là một kỹ năng thực hành có thể học được. Nó không phải là một đặc điểm di truyền hay bẩm sinh. Vì thế, cho dù chúng ta đang ở độ tuổi nào, và ở vị trí nào, nếu chúng ta phát triển thái độ về cách thương lượng, chú ý mài sắc kỹ năng này, cuộc sống của chúng ta sẽ diễn ra êm ả.

Một vài điều cần nhớ khi phát triển một chiến lược thương lượng:

- Hành động một cách hợp tác, không phải một cách cạnh tranh. Không phải là: “tôi chống lại anh”. Chúng ta xem người khác là một đối tác, chúng ta nhận thức được rằng mỗi người tham gia thương lượng đều vì một lợi ích nào đó. Sẽ là một sai lầm lớn khi nghĩ ai đó sẽ cho không bạn cái gì. Vì thế, cố gắng xác định điều gì người khác muốn, đổi lại thứ bạn muốn. Sau đó trình bày điều kiện của bạn để chỉ cho họ rằng, nếu họ giúp bạn có được thứ bạn cần, bạn cũng sẽ giúp họ có được thứ họ cần. Đôi bên cùng có lợi.

- Xác định tình huống: Khi thương lượng, bạn không nói với tổ chức đó, mà nói với người đại diện cho tổ chức đó, đang ngồi trước mặt bạn. Khi bạn xem người khác trong quan điểm này, bạn có thể nhìn thẳng vào mắt họ.

- Tăng cường mong đợi của bạn: Bạn thường có những điều bạn mong sẽ có. Nếu bạn không nghĩ bạn sẽ được thăng tiến, có thể bạn sẽ không được. Nếu bạn không nghĩ bạn sẽ giành được hợp đồng nào đó, thì chưa chắc bạn đã giành được. Bạn sẽ không thể nỗ lực vào điều bạn nghĩ sẽ không thành công. Vì thế, bạn có thể hành động tốt nếu bạn mong muốn có được cái bạn cần. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng, khi bạn thực sự mong đợi có được cái bạn đang tìm kiếm, những người khác cũng sẽ cảm nhận được mong muốn của bạn.

- Biết bạn muốn gì: Điều này nghe có vẻ đơn giản. Nhưng ngạc nhiên là, rất nhiều lần khi chúng ta tham gia vào một cuộc thương lượng, chúng ta nói: Hãy xem những thứ mà họ gợi ý cho chúng ta kìa. Tại sao chúng ta lại để người khác quyết định cái chúng ta sẽ nhận được?. Không ai biết rõ về công việc và cuộc sống của bạn hơn chính bạn cả. Có thể trình bày mục đích của bạn một cách cụ thể sẽ làm bạn có thêm sức mạnh.

- Tập trung vào các vấn đề thực sự: Quyết định điều gì bạn muốn, điều gì bạn không muốn để đi đến thoả thuận. Tại sao bạn cần xác định những điều này trước? Vì trong lò nhiệt của trận chiến, bạn sẽ không thể tập trung vào những vấn đề này quá dễ dàng, và bạn có thể ngạc nhiên về những điều bạn không nhận được hoặc những điều bạn đã cho đi.

- Chuẩn bị: Chuẩn bị ở nhà, nghiên cứu người hoặc công ty mà bạn sẽ thương lượng. Đó là một công ty tiến bộ hay trì trệ. Người đó được biết tới là một người sáng tạo hay cổ hủ? Với tất cả các thông tin sẵn có trên Internet như hiện nay, bạn chẳng khó khăn gì có thể tìm được những điều này. Nếu không, bạn có thể làm theo cách truyền thống, đó là đi tìm hiểu. Hỏi các đồng nghiệp trong ngành (không phải là đối thủ cạnh tranh) và người quen. Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi mọi người thích nói về việc hoặc người mà họ biết.

- Dành thời gian cho đối tác: Cố gắng để biết về thời hạn của đối tác mà không để lộ thời hạn của bạn. Bởi vì nếu phía bên kia biết thời hạn của bạn phải giải quyết một vấn đề hoặc một thoả thuận, họ có thể đưa ra các quyết định mà bên phía chúng ta khó có thể từ chối. Đừng để rơi vào thế bị động như thế.

Đây là một số điểm cần biết về quá trình thương lượng. Thực hành kỹ năng thương lượng sẽ mất thời gian và công sức? Tất nhiên rồi. Nhưng trở thành một người thương lượng hiệu quả và thông minh hơn sẽ mang lại cho bạn rất nhiều lợi thế cả trong công việc cũng như cuộc sống cá nhân.

Châu Giang
Theo wbsllc


Các Lễ Nghi Trong Đàm Phán Thương Mại

Tháng Năm 8, 2008

Trong đàm phán, ngôn ngữ, thái độ, tác phong, cử chỉ của bạn sẽ hé lộ cho đối tác rất nhiều điều về bạn. Do vậy, là sếp, bạn cần biết những thủ thuật để tránh những sai lầm không đáng có.

Chuẩn bị cho đàm phán

Trước khi tham gia đàm phán phải xác định trước những người sẽ tham dự vào buổi đàm phán, tư cách đứng ra đàm phán với đối tác cũng như các thành phần tham gia phải có chức vụ tương đương nhau.

Đại diện đứng ra đàm phán phải có khả năng tổng hợp tốt, trước khi đàm phán nên chuẩn bị tốt phong thái đi đứng ăn mặc của bản thân, trang phục mặc khi đàm phán phải chỉnh tề đứng đắn, trang trọng. Nếu là nam nên cạo sạch râu, nếu mặc com lê phải thắt cà vạt; nữ không nên mặc quá lộ, không nên đi dép gót cao và mảnh, trang điểm nhẹ.

Phải làm tốt khâu chuẩn bị phòng đàm phán, trong phòng đàm phán nên đặt bàn hình ovan hoặc hình chữ nhật dài, các vị trí ngồi bên phía tay phải cửa ra vào hoặc phía đối diện cửa là những vị trí trang trọng nên dành cho khách đến tham gia đàm phán.

Trước khi đàm phán nên có sự chuẩn bị đầy đủ và cụ thể về các trình tự các vấn đề đưa ra đàm phán, nội dung cho đến các vấn đề chính cần tập trung trong buổi đàm phán. Ngoài ra không thể thiếu được khâu vạch ra kế hoạch và mục tiêu đầy đủ, cũng như chiến lược áp dụng trong buổi đàm phán.

Bắt đầu bước vào đàm phán

Ngôn ngữ: Ấn tượng đầu tiên để lại trong lần tiếp xúc giữa hai bên là rất quan trọng, ngôn ngữ cử chỉ thể hiện rõ tinh thần hữu nghị và có thiện chí hợp tác, nên dùng phong thái nói chuyện thân thiện, nhẹ nhàng thoải mái là phong cách thích hợp nhất trong hoàn cảnh đó.

Thái độ: Khi giới thiệu về bản thân nên đứng đắn, tự nhiên, không nên tỏ thái độ ngạo mạn. Những người được giới thiệu đến mình nên đứng dậy, bắt tay hoặc mỉm cười, lịch sự hơn có thể nói thêm: “vinh hạnh có dịp tiếp xúc”, “mong được sự quan tâm của bên quý ngài”…Khi hỏi thăm đối tác nên thể hiện rõ thái độ lịch sự bằng các câu hỏi lịch sự như “xin cho được biết quý danh của ngài là”.

Nếu như có danh thiếp, nên đưa hai tay ra để nhận và trao đổi danh thiếp. Sau khi đã giới thiệu xong thành phần của cả hai bên, có thể lựa chọn vấn đề cả hai bên đang quan tâm để bắt đầu đàm phán. Trong thời gian chờ đợi quyết định cuối cùng nên dùng phương thức giao tiếp thiên về tình cảm, tạo nên không khí ấm áp dễ chịu, giảm bớt căng thẳng cho buổi đàm phán.

Động tác: Các động tác và biểu lộ trạng thái trong buổi đàm phán cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc điều khiển và nắm bắt không khí của buổi đàm phán. Nên tập trung ánh mắt nhìn thẳng vào đối tác, ánh nhìn nên hướng đến phần giao phía trước trán giữa hai mắt hoặc nhìn thẳng chính diện, như thế sẽ khiến cho đối tác cảm thấy sự quan tâm của mình đến họ và vấn đề họ đưa ra, từ đó đánh giá rằng bạn có thái độ nghiêm túc và thành khẩn khi tham gia đàm phán.

Tay nên hướng lên phía trên thì tốt hơn đặt xuống phía dưới, hướng đặt của tay nên tự nhiên, không nên vung tay lung tung, khiến cho đối phương có cảm giác xem thường, tránh nhất việc khoanh tay trước ngực, hành động đó là hành động thể hiện rõ nhất thái độ ngạo mạn thiếu tôn trọng đối tác.

Khi bắt đầu đi vào đàm phán, nhiệm vụ quan trọng nhât là nắm rõ được dụng ý sâu xa của đối phương, lúc đó bạn cần chăm chú lắng nghe đối tác nói chuyện, cẩn thận quan sát các cử chỉ biểu hiện của đối phương, đồng thời tiếp nối câu chuyện của đối tác một cách hợp lý. Có như vậy bạn mới nắm được ý đồ đưa ra của đối tác, vừa có thể thể hiện cho họ thấy bạn là một người lịch sự và thái độ tôn trọng của bạn đối với họ

Khi đàm phán

Đây mới là gia đoạn đi vào các vấn đề thực chất của buổi đàm phán. Các nội dung quan trọng sẽ được đưa ra trong giai đoạn này là: báo giá, chất vấn, thương lượng, giải quyết các mâu thuẫn, xử lý các vấn đề còn đóng băng giữa hai bên.

Báo giá: bạn phải chú ý báo giá rõ ràng, cụ thể, tránh xảy ra sai sót, giữ vững nguyên tắc báo giá lấy chữ tín làm trọng, không chơi trò lừa bịp tung hỏa mù với đối tác. Khi đàm phán, đối tác đã chấp nhận giá cả thì không nên thay đổi giá, giữ vững giá báo, ít thay đổi là một trong những điểm cần chú ý trong quá trình đàm phán.

Chất vấn: nên làm tốt khâu chuẩn bị các câu hỏi liên quan cần đưa ra cho bên đối tác, cần phải biết chọn đúng không khí và thời điểm thích hợp để đưa ra vấn đề cần hỏi, thái độ cần phải thẳng thắn. Tránh việc chất vấn đối tác khi không khí đàm phán giữa hai bên có phần lạnh nhạt, căng thẳng. Khi dùng từ chất vấn đối tác không nên dùng ngôn ngữ đả kích hoặc hỏi dồn không nghỉ, nhằm tránh việc khiến cho đối tác phản cảm thậm chí bực mình với bạn. Nhưng với các vấn đề mang tính nguyên tắc nên tranh luận không nhượng bộ. Đối phương khi trả lời các chất vấn đưa ra không nên tuỳ ý cắt ngang lời, khi bên tham gia đàm phán đã giải đáp xong vấn đề bạn đưa ra nên thể hiện thái độ cảm ơn của mình đối với họ.

Thương lượng: đây là phần tham khảo giá cả đưa ra, một vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích cụ thể của cả hai bên, trong giai đoạn này rất dễ xảy ra trường hợp do nóng vội mà thất lễ với phía đối tác. Chính vì thế, trong giai đoạn này bạn phải chú ý hơn nữa đến việc giữ đúng phong thái vốn có, nên giữ bình tĩnh và hoà khí, theo đuổi sự thống nhất chung giữa hai bên, có thể thể hiện sự thay đổi nhỏ trên gương mặt, nhưng khi phát ngôn dùng từ phải văn minh, lịch sự.

Giải quyết mâu thuẫn: cần bàn đúng vấn đề, đúng việc, nhẫn nại, bình tĩnh, không nên vì hai bên phát sinh mâu thuẫn liền nổi giận đùng đùng, thậm chí đi vào việc đả kích cá nhân hoặc đay nghiến đối phương.

Xử lý khoảng thời gian đóng băng giữa hai bên: đây là lúc yêu cầu bên chính của buổi đàm phán phải xử lý vấn đề rất linh hoạt, có thể chuyển sang một vấn đề khác, đợi đến khi không khí dãn ra một chút tiếp tục quay lại đàm phán. Nếu quả thực vấn đề đó không còn bất kỳ lời nào để nói thì nên tìm dịp phù hợp tạm dừng buổi đàm phán, sau thời gian nghỉ ngơi tiếp tục buổi đàm phán. Bên chính trong buổi đàm phán nên chủ động đưa ra vấn đề, không nên để cho khoảng thời gian đóng băng trong buổi đàm phán trở nên quá dài.  

Ký kết sau buổi đàm phán

Khi ký kết tất cả các thành viên tham gia đàm phán của cả hai bên đều phải đến tham dự, cùng vào trong phòng đàm phán, bắt tay đối tác, sau đó cùng ngồi vào vị trí của mình. Hai bên đều nên sắp xếp một trợ lý giúp sếp trong việc ký kết hợp đồng, ngoài những người đại điện đứng ra ký kết thì những cá nhân còn lại cũng cần phải xếp hàng phía sau người đại diện bên mình.

Trợ lý giúp người đại diện ký kết hợp đồng phải có trách nhiệm giúp đỡ người ký kết lật sang các trang văn bản cần ký kết, sau khi ký xong, việc trao đổi văn bản đã ký kết sẽ do trợ lý của hai bên thực hiện, sau đó các đại diện mới ký tiếp vào văn bản đối tác đã ký xong.

Sau khi hoàn tất khâu ký tên và đóng dấu vào văn bản, hai bên nên cùng đứng dậy, trực tiếp trao đổi văn bản ký kết cho nhau, đồng thời bắt tay, chúc mừng sự thành công của buổi đàm phán. Các thành viên khác trong đoàn đàm phán nên vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt để tạo ra không khí vui mứng hồ hởi khi kết thúc đàm phán.

Ngọc Anh
Theo witroad


Ba Bước Ngoặt Trong Đàm Phán Thương Mại

Tháng Năm 8, 2008

Trong khi đàm phán, mối quan hệ giữa hai bên tham gia hoàn toàn không phải là mối quan hệ xê dịch, nhưng cũng không phải không tồn tại những đột phá cũng như những va chạm về mặt quyền lợi. Trong đàm phán nếu không áp dụng theo nguyên tắc và những thủ thuật nhất định, thì người tham gia đàm phán sẽ rất dễ bị rơi vào hoàn cảnh khó tự mình thoát ra.

Cứ đặt giả thuyết nếu cuộc đàm phán đã đi vào giai đoạn quyết định, các điều khoản đã được ký kết xong, nhưng cả hai bên đều cảm thấy những mục tiêu của mình vẫn chưa đạt được, hoặc một bên tham gia đàm phán cảm thấy như mình bị mất hẳn đi ưu thế so với bên còn lại.

Lúc đó, nguyên nhân có thể là ít nhất một trong hai bên tham gia đàm phán không có thiện ý, hoặc là, người tham gia đàm phán không đủ khả năng nắm bắt và sử dụng một cách hiệu quả các thủ thuật và nguyên tắc đàm phán một cách tốt nhất trong khoảng thời gian hạn hẹp. Điều đó dẫn đến việc hai bên đều cảm thấy không hài lòng với kết quả thu được.

Để có thể tránh được điều này, ngoài việc người tham gia đàm phán phải nắm rõ các nội dung chuyên ngành đề cập đến trong buổi đàm phán, thì bản thân họ còn cần tuân thủ một cách nghiêm túc các phương pháp khoa học nhất định và các bước cụ thể để khống chế triến trình của các cuộc đàm phán.

Nếu hai bên cùng có thiện ý hợp tác lâu dài, lúc đó sẽ xuất hiện một khái niệm thường được áp dụng trong trường hợp này, đó là “ba bước ngoặt trong đàm phán”. Theo đó, một cuộc đàm phán nên tiến hành theo ba bước như sau: thẩm định giá cả, thiết lập giá mới và khắc phục chướng ngại. Đây là cách để giúp các nhà tham gia đàm phán nắm được tiến trình cũng như khung chung của một cuộc đàm phán.

Ba bước ngoặt trong đàm phán bao gồm: 
  
1.Thẩm định giá cả: đây là giai đoạn đầu tiên trong đàm phán, hai bên tham gia đàm phán sẽ trao đổi với nhau một cách cụ thể và rõ ràng các lợi ích cần thiết của bên mình. Việc thẩm định lại giá cả sẽ giúp thoả mãn các yêu cầu đặt ra của bên đối các cũng như các thế mạnh của họ có khi tham gia đàm phán. Bước quan trọng nhất trong giai đoạn này là phải làm sao nắm bắt và hiểu rõ những yêu cầu thực sự của bên đối tác. Vì vậy kỹ năng tốt nhất nên sử dụng trong giai đoạn này là nên đưa ra nhiều câu hỏi, để từ đó thăm dò được nhu cầu thực sự của họ.

Đây cũng là lúc bạn nên tuỳ theo tình hình và diễn biến của cuộc đàm phán để thẩm định lại những lợi ích vốn có. Khi bạn càng hiểu rõ được mục đích thực sự của đối tác, bạn sẽ càng biết cách nên làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu của họ; đồng thời bên đối tác có nắm được các lợi ích vốn có của bạn thì họ mới có thể đáp ứng được yêu cầu của bạn đưa ra.

Có rất nhiều cách để khiến đối tác không thể nắm được những lợi ích vốn có cũng như các mục đích và yêu cầu đặt ra thực sự của bên bạn, để giúp bên bạn “tung hoả mù” với đối phương, khiến đối phương đi lệch hướng, nhằm giúp thực hiện các mục đích vốn có của bạn. Nhưng tốt nhất, trong giai đoạn này bạn không nên lúc nào cũng tìm cách đánh lạc hướng của đối tác vì như vậy kẻ chịu thiệt cuối cùng chính là bạn.  
   
2.Thiết lập lại giá cả: Đây là giai đoạn giữa của cuộc đàm phán, hai bên sẽ trao đổi qua lại về vấn đề giá cả, đồng thời đắn đo cân nhắc kỹ lưỡng về các lợi ích đạt được của mỗi bên, qua đó tìm hiểu nhu cầu cụ thể của đối tác đặt ra là gì. Nhưng những cam kết đạt được sau đàm phán không hẳn sẽ đem lại cho hai bên những lợi ích tốt nhất, điều đó cũng có nghĩa là, những lợi ích mỗi bên đạt được sẽ không cân bằng nhau. Nếu như đạt được sự cân bằng giữa hai bên tham gia thì các cam kết đạt được sau đàm phán chắc chắn không phải là phương án tốt nhất.

Do vậy, hai bên tham gia đàm phán nên nghĩ ra cách để có thể đạt được một phương án tốt nhất cho cả hai bên, giúp cho cả hai bên tham gia đàm phán đều đạt được lợi ích cao nhất, thao tác này chính là thao tác sẽ được tiến hành trong giai đoạn thiết lập giá mới.

Thiết lập giá mới là một trong những giai đoạn rất dễ bị bỏ qua trong các cuộc đàm phán thương mại. Trong các cuộc đàm phán bình thường, rất ít người tham gia đàm phán có thể quan sát được toàn bộ cục diện đàm phán và đưa ra được những phương án tốt nhất, mang tính sáng tạo và cân bằng nhất về mặt lợi ích đối với hai bên. Điều đó khiến cho các thành viên tham gia đàm phán có cảm giác cuộc đàm phán không được như ý muốn, không có cảm giác mình đã “thắng”, hoặc luôn tồn tại cảm giác vấn đề chưa được hoàn toàn giải quyết. Do đó,  việc chọn ra được một phương án tốt nhất đóng vai trò vô cùng quan trọng đến thành công của buổi đàm phán.

3.Khắc phục chướng ngại: Đây là giai đoạn phải vừa đánh vừa giữ trong đàm phán. Tất cả các chướng ngại phát sinh trong đàm phán thường xuất phát từ hai phương diện sau đây:

- Hai bên tham gia đàm phán có những va chạm nhau về lợi ích.

- Bản thân người tham gia đàm phán gặp trở ngại trong việc đưa ra các quyết sách.

Chướng ngại đầu tiên yêu cầu các bên tham gia đàm phán phải dựa theo những nguyên tắc hợp lý, khách quan và công bằng để điều tiết những lợi ích riêng của cả hai. Còn với chướng ngại thứ hai, bên không gặp phải chướng ngại chủ động giúp đỡ bên gặp phải chướng ngại giải quyết để bản thân họ có thể đưa ra được những quyết sách một cách thuận lợi.

Ba khúc ngoặt trong đàm phán là nguyên tắc có thể dùng cho bất kỳ một cuộc đàm phán thương mại nào. Chỉ cần cả hai bên tham gia đàm phán có thể ghi nhớ các bước trình tự kể trên trong đàm phán thương mại, đồng thời tuân thủ một cách có hiệu quả theo các phương pháp thích hợp, thì có thể khiến cho cả hai bên đều giành được thắng lợi, cùng đạt được mục đích cao nhất sau đàm phán.

Ngọc Anh
Theo witroad


Chiến Thuật Kéo Dài Thời Gian Trong Đàm Phán

Tháng Năm 8, 2008

Trong đàm phán, việc áp dụng chiến thuật “tranh thủ từng giây từng phút” và “kéo dài thời gian” đều có ưu thế và tác dụng riêng khác nhau. Vì vậy đối với một cá nhân, việc nắm rõ cả hai chiến thuật kể trên là một điểm rất quan trọng.

Thủ thuật kéo dài thời gian trong đàm phán thương mại có rất nhiều hình thức đa dạng và phong phú, mục đích sử dụng cũng không giống nhau. Đây là một phương pháp dùng nguyên lý lấy tĩnh để khống chế động, rất ít để lại vết rạn nứt trong quan hệ giữa hai bên, nên thường xuyên được sử dụng.

Thủ thuật kéo dài thời gian, tuỳ theo mục đich, được phân ra làm bốn kiểu khác nhau sau đây:

Chiến thuật 1: Loại bỏ trở ngại

Đây là một trong những mục đích thường gặp nhất khi áp dụng phương pháp này. Khi hai bên đàm phán gặp trục trặc, tạo ra một khoảng cách nhất định giữa hai bên, đó là lúc cần phải làm chậm tiết tấu của buổi đàm phán lại, để có thêm thời gian xem xét vấn đề, phán đoán xem rốt cuộc các trở ngại nằm ở điểm nào, từ đó có thể nghĩ ra biện pháp thích ứng để giải quyết trở ngại đang gặp phải.

Arthur Conan Doyle – tác giả của tập truyện trinh thám nổi tiếng “Thám tử Sherlock Holmes” vốn là một người có tính cố chấp. Sau khi viết xong tập bốn bộ tiểu thuyết, ông có ý không muốn viết tiếp; dưới ngòi bút của Conan Doyle, nhân vật thám tử Sherlock Holmes bằng những hành động thực tế đã trở thành một bậc thầy trong việc điểu tra tội phạm cũng như là người có thể “từ một đoán ra một trăm”, cuốn hút biết bao trái tim độc giả.

Xem tiếp…


Chiến Thắng Trong Đàm Phán Thương Mại

Tháng Năm 8, 2008

Mục tiêu của đàm phán là tìm ra một giải pháp mang lại lợi ích cho cả hai bên. Nhưng trên thực tế, chúng ta lại rất ít khi nhìn thấy một viễn cảnh tươi đẹp trong đàm phán là một bên chỉ muốn “lấy nước cam”, còn bên kia chỉ cần lấy “vỏ cam” để làm món bánh gatô nướng. Người mua luôn muốn trả giá thấp nhất, còn bạn cần bán sản phẩm với giá cao nhất.  

Vậy làm thế nào để giành được thắng lợi trên bàn đàm phán, đồng thời khiến cho đối phương cũng có cảm giác họ đã giành được thắng lợi?

Điều này sẽ giống như bạn đang chơi cờ, dùng các kỹ năng đàm phán để điều khiển cục diện đàm phán, nhưng khi áp dụng chúng bạn phải tôn trọng những quy tắc chung đặt ra khi chơi cờ. Nhưng đàm phán và chơi cờ lại khác nhau ở chỗ, khi tiến hành đàm phán, đối phương không hề biết những quy tắc này, mà chỉ có thể dự đoán bạn sẽ đi nước cờ như thế nào.

Người chơi cờ sẽ dùng chiến lược di chuyển các bước thay đổi vị trí của quân tượng tạo nên “cục diện trên bàn cờ”. Khi bắt đầu vào cuộc chơi bạn phải làm thế nào để khiến cho cục diện trên bàn cờ tiến triển theo hướng có lợi cho bản thân bạn. Vào giai đoạn giữa cuộc chơi bạn sẽ tìm cách để giữ được ưu thế của mình, còn khi đến giai đoạn cuối, thì bạn phải dùng toàn bộ ưu thế của bản thân mình để hạ gục đối phương, ở đàm phán, đây là giai đoạn bên bán ra giá. 

Bắt đầu vào cuộc đàm phán: bày trí để giành thắng lợi

Khi báo giá, bạn nên ra giá cao hơn so với giá bạn dự định, điều đó sẽ khiến cho bạn có được khoảng trống để xoay chuyển. Trong quá trình đàm phán, một điều rất rõ ràng là bạn có thể giảm giá bán xuống nhưng tuyệt đối không được nâng giá lên. Chính vì vậy, bạn nên theo đuổi mức báo giá tốt nhất, khiến cho báo giá bạn cần có lợi nhất cho bạn, đồng thời bên mua vẫn cảm thấy trong cuộc mua bán này họ vẫn có lợi.

Sự hiểu biết của bạn về đối tác càng ít, thì lúc bắt đầu ra giá bạn nên đưa ra giá càng cao, bởi vì hai lí do. Một là những giả định của bạn về đối tác sẽ có sự sai lệch. Ví dụ bạn không có hiểu biết chắc chắn về bên mua và nhu cầu của họ có thực sự cao hay không, hoặc có thể mức giá ông ta đồng ý mua có thể cao hơn rất nhiều so với mức giá mà bạn có thể nghĩ ra được.

Lí do thứ hai đó là nếu bạn lần đầu tiên tiến hành mua bán với họ, nếu bạn nhượng bộ càng nhiều thì sẽ khiến cho đối tác cảm thấy bạn càng có thiện ý hợp tác. Còn nếu như trong trường hợp bạn hiểu khá rõ về đối tác và nhu cầu thực sự của họ thì bạn càng dễ điều chỉnh giá cả bạn đưa ra.

Nhưng khi áp dụng phương pháp báo giá cao hơn giá thực tế sẽ có một điểm bất lợi là, nếu như đối phương không hiểu biết nhiều về bạn, mà giá ban đầu bạn đưa ra đã khá cao có thể khiến cho bên mua có cảm giác “nhìn thấy đã sợ”. Khi bạn đã đưa ra báo giá cao hơn so với mức báo giá tốt nhất thì bạn thân bạn phải tự ngầm hiểu rằng mức giá này sẽ có sự điều chỉnh khá linh hoạt. Tránh trường hợp bên mua cho rằng giá báo của bạn khá cao, trong khi thái độ của bạn vẫn rất kiên quyết: “mua thì mua, không mua thì thôi”. Khi áp dụng thái độ kiên quyết như vậy thì kết quả của cuộc đàm phán chưa bắt đầu đã có thể biết được hồi kết thúc.

Bạn có thể thông qua cách sau đây để có thể khiến cho đối tác thấy giá cao nhưng vẫn muốn đàm phán tiếp với bạn: “Khi bên tôi đã nắm rõ nhu cầu cụ thể trên thực tế của bên ngài, chúng tôi cũng có thể điều chỉnh lại một chút giá đã báo. Nhưng trước mắt xem xét tình hình cụ thể dựa trên nhu cầu về kho chứa, chất lượng bao bì, số lượng đặt hàng chúng tôi chỉ có thể đưa ra giá 225 USD cho một bộ”. Bằng cách đó bạn có thể khiến cho đối tác nghĩ rằng: “Xem ra giá hơi cao, nhưng vẫn có thể tiếp tục đàm phán. Chắc phải bỏ ra một chút công sức xem có thể ép giá xuống bao nhiêu”.

Sau khi bạn đã đưa ra báo giá cao hơn so với dự kiến, bước tiếp theo bạn sẽ phải nghĩ xem: nên cộng thêm vào giá bao nhiêu? Đáp án khi này đó là: lấy giá bạn cần đạt được trong đàm phán làm cơ sở tính giá. Nếu bên mua ra giá thấp hơn so với giá bạn cần đạt được là bao nhiêu thì bạn phải cộng thêm vào báo giá bấy nhiêu.

Lấy một ví dụ: bên bán chỉ muốn đưa ra mức giá 160 USD để mua sản phẩm của bạn, nhưng bạn chỉ có thể chấp nhận ở mức giá 170USD. Nếu như dựa vào nguyên lý ở trên thì giá báo ban đầu bạn đưa ra nên là 180USD. Kết quả cuối cùng của cuộc đàm phán sẽ là giá đạt được sau một thời gian tham thảo và giảm giá thành sản phẩm, bạn sẽ đạt được mục tiêu giá cả ban đầu của mình.

Đương nhiên không phải trong lần đàm phán nào bạn cũng dùng đến cách giảm giá bán, nhưng nếu bạn không còn bất kỳ cách làm nào khác nữa thì lúc này việc báo giá cao và dần dần giảm giá trong khi đàm phán đó là chiến sách đầu tiên bạn nên nghĩ đến.

Giai đoạn giữa cuộc đàm phán: Tiếp tục giữ vững ưu thế

Khi cuộc đàm phán đã đi vào giai đoạn giữa thì các vấn đề sẽ trở nên rất rõ ràng. Lúc này, việc tránh để hai bên chuyển sang tâm lý đối kháng là một điều rất quan trọng, vì khi đó, bên mua sẽ rất dễ biết được rằng bạn đang tìm ra một phương án để cả hai bên cùng có lợi hay bạn dùng thái độ cương quyết để cố giữ vững lấy thế thượng phong.

Nếu như lập trường của cả hai bên “kẻ theo hướng Bắc, người vọng hướng Nam” thì bạn phải không nên tranh cãi. Tranh cãi chỉ càng khiến cho bên mua cảm thấy lập trường của mình là đúng. Tốt nhất là khi bắt đầu bạn nên đồng tình với quan điểm của bên mua, sau đó vận dụng phương pháp: “cảm giác, cảm nhận và phát hiện” (thuật ngữ tiếng Anh là 3F: “feel, felt and found”). Dùng phương pháp lùi trước tiến sau sẽ khiến cho bạn xoay chuyển được cục diện tình hình.

Ví dụ, bên mua nhận xét rằng: “Tôi nghe nói về phần vận chuyển hàng hoá công ty ngài có vấn đề?” Khi nghe xong nhận xét đó bạn không nên vội vàng tranh luận với họ. Như vậy chỉ khiến cho họ càng nghi ngờ thêm tính khách quan của bạn khi nói về vấn đề đó. Nếu như bạn dùng một cách diễn đạt khác: “Tôi rất hiểu cảm giác của bên ngài đối với vấn đề này. Rất nhiều người khi đi mua hàng đều có cảm giác như thế. Nhưng tôi nghĩ vấn đề các ngài đề cập đến chỉ là vấn đề xảy ra cách đây mấy năm khi chúng tôi dịch chuyển kho sang vị trí mới. Hiện tại các công ty lớn giống như Công ty General Motors đều tin tưởng công ty chúng tôi, hơn thế chúng tôi chưa hề để xảy ra bất kỳ vấn đề gì. Sau khi chúng tôi để cho khách hàng kiểm tra một cách kỹ lưỡng và họ đa số đều phát hiện ra rằng:….”

Còn một thủ thuật nữa để chiếm ưu thế trong giai đoạn này đó là phương pháp giao dịch. Trong bất kỳ thời điểm nào khi bên mua có ý muốn bạn nhượng bộ, bạn cũng nên chủ động đưa ra những yêu cầu tương ứng cho bên họ.

Nếu gần đây bạn ký được hợp đồng cung cấp một hợp đồng trị giá lớn và bên họ đưa ra yêu cầu phải nhanh chóng giao hàng trước khi thanh toán 30 ngày. Sau đó, giám đốc nghiệp vụ của bên khách hàng gọi điện cho bạn nói rằng: “Tiệm chúng tôi sẽ thúc công sớm hơn dự định, cho nên chúng tôi muốn thanh toán sớm hơn một chút. Bên anh có thể giao hàng sớm hơn so với dự định, vào thứ tư tuần có được không?”.

Tất nhiên phản ứng của bạn rất có thể là đồng ý ngay với đề nghị đó của bên đối tác. Nhưng trong trường hợp này bạn nên dùng phương pháp giao dịch. Bạn có thể nói với ngài giám đốc đó rằng: “Nói thật, tôi không biết có thể giao hàng sớm như thế cho bên ngài hay không. Tôi phải liên hệ lại với nhân viên sắp xếp kế hoạch sản xuất bên tôi để xác nhận lại một chút, xem họ có cách gì để giao hàng sớm hơn không. Nhưng tôi có thể hỏi một chút, nếu tôi chúng có thể giao hàng sớm hơn cho bên ngài, đổi lại bên tôi sẽ được lợi gì từ việc đó?”. Nhấn mạnh điểm này có thể phòng tránh trường hợp đối tác áp dụng thái độ “mềm nắn, rắn buông” khi thương lượng.

Kết thúc: Giành thắng lợi một cách trung thực

Bán theo từng bước là một phương pháp khá quan trọng, vì nó giúp cho người sử dụng đạt được hai mục đích. Một là, có thể dành cho đối tác một mở đầu ngọt ngào, hai là, bạn có thể khiến cho đối phương tán thành những vấn đề mà lúc đầu họ không tán thành.

Ví dụ bạn đang bán máy đóng gói. Bạn có ý đồ thuyết phục khách hàng mua model máy mới nhất của bên bạn, nhưng họ không hứng thú lắm. Bạn đang rất do dự, nhưng lại quyết định sẽ tiếp tục kiên trì chào cho khách hàng sản phẩm đó, trước khi chào khách hàng ra về bạn muốn thử lại một lần cuối cùng. Trong khi đó, những vấn đề khác bạn đã bàn bạc xong xuôi rồi, thì bạn lúc đó mới mở lời đề cập lại vấn đề đó: “Các ngài có muốn xem xét lại sản phẩm mới nhất của chúng tôi một lần nữa không? Không phải ai tôi cũng chào sản phẩm này đâu, nhưng tôi nghĩ với sản lượng sản xuất và thực lực phát triển của công ty, tôi  vẫn nghĩ rằng các ngài nên chọn model sản phẩm mới của chúng tôi thì thích hợp hơn. Mỗi một tháng các ngài chỉ phải đầu tư vào đó khoảng 500USD mà thôi.” khi đó khách hàng có thể nói rằng: “Được thôi, nếu anh nghĩ điều đó là cần thiết với chúng tôi, chúng tôi sẽ xem xét đến việc mua nó.”

Còn một tuyệt chiêu nữa để giành được thắng lợi trọn vẹn ở đó là ở phút cuối của cuộc đàm phán bạn nhượng bộ đối phương. Các cao thủ đàm phán tiêu thụ có sức ép hiểu rất rõ rằng, nếu vào phút cuối bạn chấp nhận nhường bộ đối phương một chút thì sẽ khiến cho đối tác vui vẻ chấp nhận vụ trao đổi mua bán. Ít nhất thì kiểu nhượng bộ này cũng khiến cho họ trở nên vui vẻ, ví dụ thời gian thanh toán từ 30 ngày bạn kéo dài cho họ lên 45 ngày, hoặc bạn hướng dẫn thao tác sử dụng thiết bị cho khách hàng miễn phí. Tuy nhiên, khi áp dụng chiêu này yêu cầu bạn phải có kinh nghiệm cực kỳ nhạy bén, vì điểm quan trọng không phải là bạn sẽ nhượng bộ bao nhiêu, nhiều hay ít mà vấn đề là nhượng bộ đúng thời điểm mà thôi.

Bạn có thể nói với khách hàng rằng: “Giá cả chúng tôi không thể nào thay đổi được nữa, nhưng chúng ta có thể đề cập đến những phương diện khác. Nếu ngài chấp nhận giá bên tôi đưa ra, tôi có thể trực tiếp đến giám sát quá trình lắp đặt, đảm bảo cho mọi việc diến ra một cách thuận lợi”. Hoặc khi bắt đầu vào đàm phán bạn đã dự định như thế, những đến lúc đó bạn mới có cơ hội thực hiện, thì việc áp dụng sự nhượng bộ vào phút cuối như ví dụ trên sẽ là một trong những cách rất lịch sự để khiến đối phương thay đổi, khiến cho đối tác đưa ra câu trả lời rằng: “Nếu bên ngài đã có ý tốt như vậy, thì bên tôi cũng sẽ chấp nhận cái giá đã đưa ra”. Lúc đó bên đối tác sẽ không cảm thấy mình bị thua trong cuộc đàm phán, mà còn cảm thấy rằng cuôc trao đổi mua bán đó diễn ra rất công bằng.

Tại sao không nên đưa ra giá thấp nhất cho bên mua suốt từ đầu đến cuối cuộc đàm phán? Nguyên nhân chính của việc đó là khiến cho đối tác dễ dàng chấp nhận cuộc mua bán. Nếu bạn đã hoàn toàn nhượng bộ trước khi cuộc đàm phán kết thúc thì những giờ phút cuối cùng của cuộc đàm phán bạn sẽ không còn gì để làm thay đổi đối trọng giữa bạn và họ. Giờ phút cuối cùng của buổi đàm phán có thể làm thay đổi tất cả mọi thứ.

Ngọc Anh
Theo witroad


Thủ Thuật Báo Giá Trong Đàm Phán Thương Mại

Tháng Năm 8, 2008

Có 4 nội dung thường được đề cập đến trong một cuộc đàm phán, đó là giá cả, thời gian giao hàng, cách thức thanh toán cho đến các điều khoản bảo đảm. Trong đó báo giá là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của buổi đàm phán. Vậy rốt cuộc bên nào nên đưa ra báo giá trước? Nên báo giá trước hay sau thì hợp lý? Còn cách báo giá nào khác nữa không?

Theo thông lệ thường, người đứng ra mở cuộc đàm phán sẽ là người đưa ra giá trước.

Nếu giữa chủ đầu tư và đơn vị mời thầu nên báo giá cho chủ đầu tư trước, nếu như giữa bên bán và bên mua thì bên bán sẽ là bên báo giá trước.

Nếu như bạn giành được quyền ra giá trước tiên thì sẽ nắm được thế chủ động, khống chế được đối tác, từ đó đưa cuộc đàm phán giới hạn trong một khung nhất định, trên cơ sở đó đạt đến sự thống nhất chung giữa hai bên.

Một số ông chủ buôn bán quần áo tại khu vực miền nam Trung Quốc rất hay áp dụng phương pháp báo giá trước, hơn thế giá mà họ đưa ra thường cao hơn gấp đôi hoặc gấp nhiều lần so với giá thực tế mà khách hàng phải chi trả.

Một chiếc áo sơ mi nếu có thể bán với cái giá 60 tệ, các ông chủ đó sẽ cảm thấy rất hài lòng với mức giá đó rồi, nhưng họ sẽ báo cho bạn giá lên tới 160 tệ. Họ đã rất thông minh khi tính đến việc sẽ có nhiều khách hàng, cho dù có trả giá thấp, cũng không dám trả giá giảm xuống tận 60 tệ. Chính vì vậy, một ngày ông chủ kiếm được một khoản tiền kha khá.

Đương nhiên, bên báo báo giá trước cũng cần có một “độ” nhất định, không thể gọi giá lên trời, khiến đối tác quay mặt không cần tham gia đàm phán. Báo giá trước sẽ có điểm có lợi của nó, nhưng cũng sẽ dẫn đến việc lộ ra một số thông tin tình báo, khiến cho đối tác sau khi biết được giá cả, có thể so sánh ngầm giá cả mình đã dự tính từ trước với giá cả mà bạn đưa ra, sau đó tiến hành việc điều chỉnh.

Nếu như họ cảm thấy hợp lý thì việc mua bán sẽ diễn ra thành công, nếu như họ cảm thấy không thích hợp thì họ sẽ nhanh chóng áp dụng rất nhiều thủ đoạn để nhằm giảm bớt giá thành sản phẩm xuống.

Nhà phát minh nổi tiếng của Mỹ là Thomas Edison khi đang còn là thợ sửa điện cho một công ty đã phát minh ra một thứ đem lại lợi nhuận cho công ty đó. Giám đốc công ty có ý muốn mua lại độc quyền sử dụng phát minh của ông, nên đã hỏi ý xem ông sẽ bán lại nó với giá bao nhiêu tiền. Khi đó, Edison nghĩ rằng chỉ cần bán phát minh đó với giá 5000 đô cũng đã là một món hời rồi, nhưng ông không hề nói ra điều đó.

Ông khiêm nhường nói với ông chủ nọ: “Ngài chắc hẳn nắm rất rõ việc mua được độc quyền sử dụng phát minh này sẽ có giá trị như thế nào đối với công ty, chính vì vậy, giá cả tôi muốn nhường cho ngài đưa ra trước!”. Ông giám đốc nọ đã đưa ra giá rằng: “Anh cảm thấy cái giá 400.000 đô như thế nào?”.

Còn như thế nào nữa, tất nhiên, cuộc đàm phán không có khâu trả giá đã đi đến hồi kết. Nhờ khoản tiền lớn không thể ngờ được từ cuộc mua bán trao đổi đó mà Edison có thêm tiền để đầu tư vào cho những phát minh sau này của ông.

Từ các ví dụ trên có thể thấy việc báo giá trước hay sau đều có mặt lợi và mặt có hại của nó. Chính vì thế khi tham gia đàm phán, việc quyết định “tiền âm đoạt nhân” hay lựa chọn “hậu phát trị nhân” lại cần đến sự xử lý một cách linh hoạt của người tham gia đàm phán.

Thông thường, nếu bạn chuẩn bị đầy đủ, biết mình biết đối tác, bạn nên tận dụng cơ hội đưa ra giá cả trước. Nếu bạn thấy đối tác là người rất biết cách làm việc, thì bạn nên chịu nhịn một chút, và đóng vai trò là người đưa ra giá cả sau. Từ giá cả bên đối tác cung cấp cho bạn mà rút ra các thông tin cần thiết, kịp thời điều chỉnh lại cách nghĩ ban đầu của bản thân.

Nếu đối tác tham gia đàm phán với bạn là một người có tác phong làm việc cởi mở thì cho dù bạn có thuộc típ người “làm việc kín đáo” hay kiểu “làm việc cởi mở” thì bạn đều nên tranh thủ cơ hội đưa ra giá cả trước, dùng hết khả năng chiếm thế thượng phong, áp đảo đối phương.

Hầu hết các ông chủ lão luyện trên thương trường đều hiểu rất rõ điều đó. Khi khách hàng của họ là một người phụ nữ thông minh, họ sẽ áp dụng phương thức đưa ra giá trước, và bản thân sẽ chuẩn bị tư tưởng khách hàng sẽ ép giá xuống thấp.

Nhưng khi khách hàng của họ chỉ là một chàng thanh niên tay chân vụng về, họ sẽ thay đổi ngay cách làm hỏi xem đối phương sẽ “ra giá bao nhiêu”, vì có thể vị khách hàng đó sẽ đưa ra một cái giá còn tốt hơn giá mà bản thân họ sẽ đưa ra.

Đưa ra giá trước hay sau là vấn đề thuộc vào phương diện tính toán mưu lược. Hơn thế, còn có một số phương thức báo giá khá độc đáo khác, gọi là “báo giá không phải là báo giá”, và cũng sẽ có “báo giá thêm báo giá”.

Đôi khi, bạn sẽ rơi vào trong trường hợp: nếu bạn báo giá cao sẽ mất mối làm ăn, do vậy liền phân giá cả báo ra làm nhiều lần, mỗi một lần báo cộng thêm một ít, khiến cho sau nhiều lần đưa ra báo giá, cái giá cuối cùng cộng gộp lại cũng sẽ là giá cao như bạn dự định báo một lần lúc đầu.

Ví dụ: có một cửa hàng buôn bán đồ dùng văn phòng chào một bộ gồm bút, mực, giấy, nghiên đến một hoạ sĩ. Nếu như anh ta chỉ báo giá cả bộ cùng một lần với giá cao, người hoạ sĩ nọ sẽ không mua hàng của anh ta.

Nhưng đồ dùng văn phòng có thể phân ra nhiều lần để báo giá, anh ta có thể báo giá của bút trước, giá bút anh ta đưa ra rất rẻ, sau khi đã ký xong việc mua bút rồi anh ta lại tiếp tục bàn đến giá cả của mực, giá anh ta đưa ra cũng không hề cao; đợi cho bút và mực đều đã bán được rồi, khi đó anh ta mới chào giá của giấy, rồi bàn đến nghiên, hai đồ này anh ta đều nâng giá lên cao. Trong khi đó, người hoạ sĩ nọ đã quen mua anh ta bút và mực, tất nhiên sẽ nghĩ đến việc “đủ bộ thành rồng”, không bỏ qua việc mua giấy và nghiên. Còn anh bán hàng sẽ rất khó có thể giảm giá bán đi cho người hoạ sĩ nọ.

Áp dụng phương pháp “báo giá thêm báo giá”, cái để bên bán hàng dựa vào thường là các sản phẩm anh ta đem ra chào báo thường có tính hệ thống, là một nhóm hoặc một bộ. Khi đó khách hàng đã mua một thứ trong đó, thì sẽ muốn mua đến cái thứ hai, thứ ba.

Đối với trường hợp này, nếu bạn là người mua, trước khi tham gia đàm phán nên suy nghĩ kỹ đến đặc điểm hệ thống hóa của sản phẩm, nếu trong quá trình đàm phán nếu như bạn phát hiện ra một cách kịp thời bên bán đang sử dụng thủ thuật “báo giá thêm báo giá”, thì phải ngay lập tức loại bỏ ngay “thủ đoạn ngầm” này.

Một nhân viên bán hàng ưu tú, khi gặp được một khách hàng rất ít khi hỏi trực tiếp rằng: “Giá cả anh định đưa ra là bao nhiêu?”, ngược lại, anh ta lại nói với bạn theo một cách khác: “Tôi biết ngài là một người rất biết cách làm việc, kinh nghiệm phong phú, ngài sẽ không bao giờ đưa ra cái giá ở mức 20 đô, nhưng ngài cũng không thể mua với cái giá chỉ có 15 đô”.

Những câu nói kiểu đó tưởng chừng như anh ta chỉ thuận miệng nói ra cho bạn nghe, trên thực tế anh ta đang báo giá, mặt ẩn bên kia của ngôn từ đã giới hạn mức giá chỉ trong phạm vi từ 15 đến 20 đô. Kiểu báo giá như thế, cùng một lúc đưa ra những hai loại giá, một là mức thấp nhất, hai là mức cao nhất đúng theo ý “nắm hai đầu, ý kẹp giữa”, từ đó truyền đạt cho ban một tin tức như sau: tôi chấp nhận việc anh trả giá, nhưng chỉ hạn chế được trong một phạm vi cụ thể nào đó thôi. Ví dụ trên đây, vô hình chung sẽ hạn chế khoảng giá cả đem ra thảo luận chỉ được giới hạn trong khoảng từ 15 đến 20 đô mà thôi.

Ngoài ra, hai bên khi đàm phán, có khi theo những dự định riêng của mỗi bên, nên không bên nào đưa ra giá cả trước, khi đó, lại cần dùng đến một phương pháp khác gọi là “phương pháp khích tướng” khiến cho đối tác phải đưa ra giá trước. Cách để khích tướng có rất nhiều cách khác nhau, ở đây chỉ đưa ra một tuyệt chiêu: cố ý nói sai một câu gì đó, từ đó thăm dò thông tin từ phía bên đối tác.

Ví dụ, hai bên vòng qua vòng lại đều không ai muốn đưa ra giá cụ thể, khi đó, ban đột nhiên lỡ miệng nói ra một câu: “Tôi biết, ông nhất định muốn trả 30 đô”. Lúc đó đối tác tham gia đàm phán nhất định sẽ tranh luận: “Anh dựa vào điều gì mà bảo rằng tôi sẽ đưa ra mức giá đó? Tôi chỉ định trả 20 đô thôi”.

Khi anh ta nói như vậy để phản bác lại bạn có nghĩa là anh ta đã báo giá trước, bạn lúc đó có thể dễ dàng dựa trên cơ sở giá đã đưa ra đó để tiếp tục bàn luận về giá cả.  

Từ những điều đề cập đến ở trên có thể thấy rằng: báo giá trong đàm phán thương mại cùng với việc định giá của sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn. Báo giá trong đàm phán chính là một kiểu biến tướng của việc định giá sản phẩm mua bán, do vậy, các phương pháp báo giá áp dụng trong quá trình đàm phán có thể coi như là những phương pháp và chiến lược áp dụng khi định giá sản phẩm mua bán.

Ngọc Anh
Theo witroad


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.