Mối lo đối với ngân hàng và tập đoàn

Nhân chuyến công tác tại Việt Nam, giáo sư David Dapice, người đã có hơn 30 năm nghiên cứu về kinh tế Đông Á – Đông Nam Á và đến Việt Nam lần đầu vào năm 1989, một trong những tác giả của loạt bài phân tích về tình hình Việt Nam của nhóm Harvard đã dành cho SGTT cuộc phỏng vấn về những vấn đề liên quan đến hệ thống ngân hàng và mô hình tập đoàn kinh tế

Vì sao “những vấn đề” của hệ thống ngân hàng thương mại được ông, và nhiều nhà kinh tế khác đặc biệt quan tâm?

Vấn đề cơ bản của Việt Nam trong thời gian qua là tiến trình cải cách ngân hàng trung ương, cơ quan giám sát, cũng như việc xây dựng và thực thi các công cụ giám sát hệ thống ngân hàng chậm hơn tiến trình mở cửa và tự do hoá. Giống như chiếc xe được tăng tốc ngày một nhanh hơn, nhưng hệ thống phanh an toàn không trang bị tương ứng nên tiềm ẩn rủi ro rất lớn.

Vấn đề nêu trên đã tồn tại từ lâu, nhưng những khó khăn, yếu kém vẫn chưa bộc lộ cho đến thời gian gần đây khi các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng quá nhanh, nhất là các ngân hàng quy mô nhỏ. Tốc độ tăng trưởng tín dụng của những ngân hàng này đã lên tới 50% thậm chí còn cao hơn năm ngoái, khi mà chứng khoán và thị trường bất động sản bùng nổ. Nhưng nay thì thị trường chứng khoán đã giảm 60%, còn thị trường bất động sản cũng khó khăn hơn. Nhiều người vay ngân hàng để đầu tư chứng khoán và bất động sản chắc không dễ trả nợ cho những ngân hàng đó. Tôi không biết số liệu chính xác, nhưng có thể đoán là nhiều trong số những ngân hàng nhỏ đang trong tình trạng xấu. Khi đó, thì các ngân hàng có xu hướng trở thành kẻ đánh bạc hơn là một nhà băng, vì họ sẽ phải cố cho vay những khoản vay mạo hiểm để cố thu tiền về. Ở các thị trường thông thường, các doanh nghiệp lớn thường là những người có trọng lượng hơn trong việc quyết định giá (mà ở đây là lãi suất), nhưng điều ngược lại có vẻ như đang xảy ra ở Việt Nam, khi chính các ngân hàng nhỏ và có vẻ như đang gặp khó khăn lại là người dẫn đầu trong cuộc đua lãi suất hiện nay. Nếu những vấn đề nêu trên là sự thực, thì cần sát nhập những ngân hàng đó với những ngân hàng vững chắc hơn. Điều này thì nhiều quốc gia đã làm.

Ông đánh giá như thế nào về sự xuất hiện nhiều của các ngân hàng thương mại trong thời gian hơn sáu tháng qua?

Tôi quan tâm nhiều hơn về vấn đề giám sát các ngân hàng. Vẫn có thể cho thành lập các ngân hàng mới nếu chúng hoạt động hiệu quả. Còn nếu chúng có nhiều khoản nợ xấu, thì là có vấn đề.

Để giám sát và vận hành tốt hệ thống ngân hàng cần phải có một ngân hàng trung ương mạnh, một cơ quan giám sát với các công cụ tốt và khả năng thực thi cao. Xét theo khía cạnh thông thường ít ngân hàng sẽ dễ giám sát hơn. Tuy nhiên, việc muốn có ít hay nhiều ngân hàng không nên dựa vào ý chí chủ quan mà nên tuân theo các quy luật khách quan. Ở tình huống này, việc nâng cao các điều kiện (vốn, quản lý, v.v.) khi thành lập mới cũng như cho phép tồn tại các ngân hàng là cách thức tốt để Việt Nam có thể cải cách và xây dựng một hệ thống ngân hàng mạnh.

Bên cạnh hệ thống ngân hàng, ông và các đồng nghiệp của mình cũng đưa ra nhiều cảnh báo về các doanh nghiệp nhà nước, nhất là mô hình tập đoàn kinh tế…

Về các doanh nghiệp nhà nước, tôi nghĩ, riêng năm ngoái các doanh nghiệp này đã vay rất nhiều tiền, không chỉ đơn thuần là từ trong nước, mà còn từ các ngân hàng nước ngoài. Gánh nặng nợ nần đó là vấn đề nghiêm trọng xét về ngắn hạn và lãi suất, so với ODA – vốn là những khoản vay dài hạn và lãi suất thấp. Khi doanh nghiệp có sai sót trong các khoản đầu tư, thì họ có nhiều thời gian hơn để khắc phục với các khoản vay dài hạn. Nhưng vay thương mại thì khác.

Các tập đoàn nhà nước có xu hướng mở rộng sang các lĩnh vực không phải trọng tâm của họ. Họ lập ngân hàng, các công ty chứng khoán, bất động sản, truyền thông… Tất cả những điều này chứng tỏ là chúng ta sẽ không hy vọng họ kinh doanh giỏi. Và nếu họ không biết làm kinh doanh tốt trong một môi trường đã khác với giá dầu và lương thực đã cao hơn, thì rất khó kiếm tiền, kể cả với các công ty tốt. Với các công ty mới, điều này càng khó hơn. Vì vậy, tôi nghĩ là sự phát triển rất nguy hiểm khi đa dạng hoá quá nhanh như vậy. Họ phát biểu, điều này là “không có vấn đề gì”, nhưng tôi nghĩ bây giờ quá sớm để đánh giá. Bản thân tôi muốn biết thêm nữa để có thể nói đó là, hay không là vấn đề.

Nhưng các tập đoàn của Việt Nam báo cáo là họ đầu tư ra ngoài lĩnh vực kinh doanh chính chỉ khoảng hơn 7.000 tỉ đồng, một khoản không lớn?

Đâu là lĩnh vực kinh doanh chính, ví dụ, của Vinashin? Đó là một công ty thép, một công ty bất động sản, hay là gì? Anh biết đấy, họ đã mở thêm các công ty mỗi tuần trong năm ngoái. Và tôi thực sự không biết là họ đang làm những lĩnh vực kinh doanh gì. Họ có thể định nghĩa đó là ngành nghề chính. Nhiều tập đoàn khác cũng thế, họ mở rộng kinh doanh có thể là trong lĩnh vực chính, hay ra ngoài. Nhưng tóm lại, cho đến khi có các nhóm bên ngoài xem xét vấn đề này một cách cẩn thận, thì khó mà đánh giá được việc này. Tôi không nói là việc phân loại về lĩnh vực kinh doanh của họ là sai, nhưng tôi nói là rất khó để khẳng định đó là đúng.

Một câu hỏi khác tôi muốn đặt ra là tiêu chí lựa chọn hay cắt giảm các dự án hay các khoản đầu tư của các doanh nghiệp này là gì? Chúng ta có thể lấy ra hai ví dụ tương phản nhau. Intel phải mất khoảng một thập kỷ cân nhắc tính toán mới đưa ra quyết định đầu tư 1 tỉ đô la vào Việt Nam mà chúng ta biết rằng sản xuất chip là hoạt động nòng cốt (nếu không muốn nói là duy nhất) của tập đoàn này. Hơn thế, họ cũng có những bước đi hết sức thận trọng. Đầu tiên là quyết định đầu tư 300 triệu, nâng lên 600 triệu rồi mới đến 1 tỉ đô la. Ngược lại đối với tập đoàn Vinashin của các bạn trong ba năm qua đã đầu tư hơn 3 tỉ đô la và chỉ trong vòng có vài ba tháng đã có thể quyết định ngừng triển khai vài chục dự án với tổng mức đầu tư lên đến 6.500 tỉ đồng và thôi không tham gia một liên doanh với mức vốn góp dự tính lên đến 1 tỉ đô la.

Các ông khuyên là Việt Nam không nên dựa vào các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng khu vực này đã được xác định là “mũi nhọn của nền kinh tế”…

Hoàn toàn đúng là lời khuyên này không tương đồng với những gì đang xảy ra. Nhưng có điều cũng rất đúng, là họ đang được hưởng rất nhiều vốn vay, hay các ưu đãi khác mà chẳng tạo được nhiều công ăn việc làm hay tham gia xuất khẩu.

Có nhiều loại mũi nhọn, nhưng mũi nhọn mà Việt Nam cần chắc phải là nhọn thật, và có thể đó là các doanh nghiệp nhà nước. Trong vài trường hợp tôi không chống lại các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng nhiều doanh nghiệp đã được trợ cấp để trở nên không hiệu quả.

Các doanh nghiệp FDI, hay doanh nghiệp tư nhân cũng có thể là mũi nhọn cơ mà. Trong lĩnh vực sản xuất dầu thì mũi nhọn là các doanh nghiệp nước ngoài, trong lĩnh vực nông nghiệp thì mũi nhọn là doanh nghiệp tư nhân, còn trong sản xuất điện thì là doanh nghiệp nhà nước. Tôi nghĩ “mũi nhọn” phụ thuộc vào sản phẩm và chất lượng của doanh nghiệp.

Tôi thấy các báo cáo của nhóm các ông dường như bi quan hơn nhiều so với đánh giá của WB, ADB, và các đối tác phát triển khác của Việt Nam. Vì sao?

Đó là quan sát của bạn và một số người, trong khi chúng tôi, với tư cách hoàn toàn độc lập, thường nhìn nhận vấn đề một cách khách quan với quan điểm phê phán trên tinh thần xây dựng. Những phân tích của chúng tôi thường cố gắng lột tả bức tranh đúng bản chất của nó từ đó tìm ra những chính sách và giải pháp thiết thực để làm cho nó sáng lên, còn nếu cứ nói Việt Nam có triển vọng dài hạn một cách chung chung mà không chỉ ra được triển vọng đó dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như thế nào hay dựa vào một đội ngũ nhân lực có chất lượng cao được tạo từ một hệ thống giáo dục tốt thì đó không phải là cách tiếp cận của chúng tôi. Tiềm năng khó có thể biến thành hiện thực nếu những những vấn đề hiện tại không được điều chỉnh để chúng đi đúng hướng. Nếu các chính sách đang được điều chỉnh một cách hợp lý, thì chúng ta đúng là có thể lạc quan hơn.   

Tư Giang (thực hiện)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: