Đừng quên “nền kinh tế thật”

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, một nước tiên tiến bậc nhất, làm nhiều người hoảng hốt về sự tinh vi có sức công phá khủng khiếp của một số công cụ tiền tệ, chứng khoán. Càng khiến những nhà kinh tế phải suy nghĩ thế nào là con đường phát triển vững chắc, bền bỉ truớc trào lưu toàn cầu hóa.

Trước hết tôi muốn bàn về hai thuật ngữ ít được nói đến nhưng xét ra rất quan trọng cho Việt Nam ở giai đọan hiện nay. Đó là nền kinh tế thật (real economy) và nền kinh tế tiền tệ (monetary economy). Để tránh hiểu lầm, “thật” ở đây không có nghĩa ngược lại với “giả” mà chỉ có nghĩa là “hiện vật”, “thực thể” như số thép sản xuất, số lúa gạo tiêu thụ, số hàng may mặc xuất khẩu, số lao động tham gia sản xuất, số lượng điện cung cấp…

Do đó, đối chiếu với kinh tế thật, kinh tế tiền tệ không có nghĩa là kinh tế giả tạo hay kinh tế ảo mà là nền kinh tế đã quy đổi ra tiền tệ mọi hàng hóa và dịch vụ theo giá trị trên thị trường. Tuy nhiên khi giá cả của bất động sản hoặc của chứng khoán bị nâng lên quá cao, vượt khỏi giá trị thực của đất đai, của nhà cửa, cao ốc hoặc giá trị thực của công ty thì trong trường hợp đó, kinh tế tiền tệ bao gồm cả ý nghĩa giả tạo. Nền kinh tế bong bóng là hiện tượng của một nền kinh tế giả tạo.

Dĩ nhiên, trên thực tế, trừ những nền kinh tế còn ở giai đoạn sơ khai, kinh tế tiền tệ đã trở thành phổ biến ở mọi nước. Tại những nước đang phát triển như Việt Nam, kinh tế tiền tệ ngày càng phát triển, đã lan rộng đến cả các vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, mục tiêu tối thượng của hệ thống tiền tệ vẫn là làm sao góp phần làm mạnh nền kinh tế thật và hệ thống đó phải hoàn toàn nằm trong khả năng quản lý, giám sát của nhà nước.

Để được như vậy, phải ưu tiên củng cố hệ thống ngân hàng, làm cho ngân hàng trở thành chỗ tin cậy và gần gũi với dân chúng là những người gửi tiết kiệm, là những nhà đầu tư. Phải tạo cơ chế để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận với vốn mới có thể xúc tiến đầu tư phát triển, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng cường nền kinh tế thật. Mặt khác, thị truờng chứng khoán nên được phát triển từng bước vững chắc và lành mạnh.

Trong cuộc khủng hoảng tài chính Á châu vào năm 1997, một trong những nguyên nhân làm cho Thái Lan bị ảnh hưởng nặng hơn các nước khác là sự suy yếu trong nền kinh tế thật.

Trước sự trỗi dậy của Trung Quốc từ đầu thập niên 1990, Thái Lan không kịp chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu lên cao hơn để tránh cạnh tranh từ Trung Quốc, hoặc không kịp cải tiến công nghệ để tăng năng suất nhằm duy trì cạnh tranh trong cơ cấu cũ.

Do xuất khẩu không tăng, cán cân thương mại ngày càng nhập siêu. Điều nầy vừa làm tăng nhập khẩu tư bản (nhất là tư bản ngắn hạn), vừa tạo tâm lý lo ngại giữa những nhà đầu tư nước ngoài về sự mất giá của đồng baht. Đây là trường hợp nền kinh tế thật suy yếu đưa đến bất ổn trong kinh tế tiền tệ.

Bây giờ là lúc phải trở lại với nền kinh tế thật và trên cơ sở một nền kinh tế thật vững chắc mới có thể có một nền kinh tế tiền tệ phát triển trong ổn định.

Lý luận nổi tiếng của David Ricardo về lợi thế so sánh của một nước là một ví dụ dựa trên phân tích một nền kinh tế thật. Trong thực tiễn, suy nghĩ kỹ ta cũng thấy “kinh tế thật” vẫn hiện diện rất rõ nét. Chẳng hạn, với thời gian lao động mỗi tuần, người công nhân ở khu công nghiệp ở TP.HCM vào tháng 10 năm nay mua được bao nhiêu cân gạo, bao nhiêu lít nước mắm, và so với tháng 10 năm ngoái lượng gạo, lượng nước mắm tăng giảm ra sao… là những ý niệm của một nền kinh tế thật rất thời sự hiện nay.

Mục tiêu của phát triển kinh tế là nâng cao mức sống của dân chúng. Dù kết quả của phát triển phản ảnh ở thu nhập tính bằng tiền, mức sống của dân chúng phải được xét trên sức mua của thu nhập bằng tiền ấy. Mức sống được nâng cao khi điều kiện về nhà ở, về ăn mặc, đi lại… được cải thiện so với trước, và đây là phạm trù của nền kinh tế thật.

Trường hợp ở nước ta hiện nay, cán cân thương mại vẫn nhập siêu lớn. Nguyên nhân chính một mặt là vì cơ cấu xuất khẩu không được cải thiện, vẫn còn tùy thuộc vào các mặt hàng dùng nhiều lao động giản đơn và ít giá trị gia tăng, mặt khác chậm thay thế nhập khẩu nhiều mặt hàng mà Việt Nam có tiềm năng trong lợi thế so sánh.

Để chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, cải thiện cán cân thương mại, cần phải tăng năng lực cạnh tranh. Phải nâng đỡ hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (giúp tiếp cận với vốn, với công nghệ và thông tin về thị trường) để có khả năng liên kết với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài tạo thế liên hợp hàng dọc, và như vậy sẽ thay thế dần một cách hiệu quả các sản phẩm đang nhập khẩu. Phải nhanh chóng hiệu suất hóa các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm cung cấp đủ điện, nước và phương tiện lưu thông cho họat động sản xuất. Trong trung hạn, phải cung cấp đủ lao động lành nghề, các nguồn nhân lực có khả năng quản lý trung và cao cấp… Tất cả các mặt này đều thuộc lãnh vực của một nền kinh tế thật.

Trong tình hình kinh tế Mỹ và kinh tế thế giới nói chung đang cuốn vào cơn lốc của nền kinh tế tiền tệ, Việt Nam cần quay về với nền kinh tế thật, dồn sức lực củng cố nền kinh tế thật. Đây là con đường để có phát triển ổn định, bền vững.

Theo GS TRẦN VĂN THỌ – Thời báo kinh tế Sài Gòn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: