Kiều hối teo tóp

TT – Vấn đề nhức đầu cho chính phủ các nước xuất khẩu lao động là làm thế nào tái tạo việc làm cho lao động hợp tác (LĐHT) khi họ bị đẩy trở về quê nhà, trong khi lực lượng lao động trong nước cũng khốn đốn không kém. Trong các gói kích cầu hỗ trợ kinh tế của nhiều nước châu Á, đáng tiếc vấn đề trợ giúp lực lượng LĐHT trở về vẫn chưa được đặt ra… 

labourinarabia

Lao động hợp tác Ấn Độ tại vùng Vịnh – Ảnh: Arabian Business

Tình trạng khủng hoảng toàn cầu đang khiến bức tranh LĐHT thêm u ám. Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo cuộc khủng hoảng lần này sẽ khiến ít nhất 53 triệu người trở nên nghèo hơn tại các nước đang phát triển trong năm 2009. Chỉ mới hạ tuần tháng 2-2009, 1 tỉ USD đã “chạy trốn” khỏi các thị trường mới nổi (BRIC – Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc), mức thiệt hại nặng nhất trong một tuần kể từ tháng 10-2008 (Washington Post 5-3-2009).

Cho đến trước thời điểm khủng hoảng, kiều hối là nguồn thu nhập lớn nhất, tăng nhanh nhất, đáng tin cậy nhất và là công cụ hiệu quả nhất trong cuộc chiến xóa nghèo của các nước đang phát triển. Theo WB, năm 2005 các nước nghèo đã thu được 167 tỉ USD từ nguồn lao động hải ngoại, nhiều hơn mọi khoản viện trợ nước ngoài. Tính luôn các giao dịch không báo cáo, ước tính con số tổng cộng vượt mức 250 tỉ USD.

Số tiền họ gửi về nước – dưới hình thức giúp đỡ cá nhân của người nghèo tới người nghèo hơn – đã tạo cơ hội ít ỏi cho tích lũy của cải, đầu tư học hành, nhà cửa hay kinh doanh nhỏ và giúp một phần xã hội có thể gia nhập tầng lớp trung lưu. Năm 2005, ít nhất 39 tỉ USD chảy ra khỏi nước Mỹ được chuyển về quê nhà bởi dân nhập cư. Theo WB, số di dân trên thế giới tăng từ 120 triệu tới 175 triệu người trong thập niên 1990, và số tiền họ gửi về nhà mỗi năm tăng gấp ba trong cùng thời gian.

“Tỉ lệ cực lớn”

Dilip Ratha, chuyên gia kinh tế cao cấp WB, cho biết: “Gần một tỉ người, tức cứ sáu người thì có một có thể được nhận hỗ trợ từ hình thức này. Một tỉ lệ cực lớn”.

Nhờ hàng triệu giao dịch như vậy mà số lượng tiền gửi về hằng năm của Mexico tăng gấp đôi từ năm 2002; và năm 2005 đã đạt 20 tỉ USD, chỉ đứng thứ hai sau dầu hỏa. Các nước đang phát triển khác cũng phụ thuộc nhiều vào kiều hối của LĐHT. Lao động Brazil ở Nhật gửi hơn 2 tỉ USD về nhà mỗi năm, nhiều hơn mức xuất khẩu cà phê của nước này.

Số ngoại tệ này còn hơn mức xuất khẩu trà ở Sri Lanka và công nghiệp du lịch ở Morocco. Ở Jordan, Lesotho, Nicaragua, Togo và Tajikistan, kiều hối cung cấp hơn 1/4 GDP. Không như viện trợ nước ngoài, kiều hối được phân chia đồng đều, ổn định và được dẫn đến đúng địa chỉ hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế nói chung.

Với một số nước như Philippines, công nhân hải ngoại thậm chí trở thành trụ cột của kinh tế quốc gia. Thời điểm năm 2005, có đến 9 triệu người Philippines làm việc ở nước ngoài và mỗi ngày có hơn 3.100 người rời nước đi lao động. Công nhân Philippines gửi về nước hơn 10,7 tỉ USD năm 2005, tương đương 12% GDP. Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo gọi họ là “trụ cột của lực lượng lao động thế giới mới” và “nguồn xuất khẩu lớn nhất của chúng ta”…

Tính trung bình kiều hối tại châu Á (từ 50 triệu LĐHT) chiếm 2% GDP và 15% xuất khẩu. Năm 2008, tổng kiều hối toàn cầu đạt 305 tỉ USD, tăng 9% so với năm 2007 (8,9 tỉ USD cho Bangladesh; 27 tỉ USD cho Trung Quốc; 30 tỉ USD cho Ấn Độ; 6,5 tỉ USD cho Indonesia; 2,2 tỉ USD cho Nepal; 1,8 tỉ USD cho Malaysia; 7 tỉ USD cho Pakistan; 16,4 tỉ USD cho Philippines; 2,7 tỉ USD cho Sri Lanka; 5,5 tỉ USD cho VN và 1,8 tỉ USD cho Thái Lan – theo Tổ chức Lao động quốc tế). Kiều hối chiếm 9,5% GDP Bangladesh; 2,4% GDP Ấn Độ; 15,5% GDP Nepal…

“Nghỉ phép dài hạn”

Bây giờ nguồn kiều hối đang khô hạn toàn cầu. Sự giảm sút kiều hối ở Kyrgyzstan (nơi lệ thuộc 27% GDP vào kiều hối LĐHT) nghiêm trọng đến mức vào tháng 11-2008 Chương trình lương thực thế giới LHQ (UNWFP) đã được cầu cứu viện trợ “cái ăn” khẩn cấp cho nước này, lần đầu tiên từ năm 1992.

Sản xuất đình trệ, xuất khẩu đình đốn và thất nghiệp tăng vụt khiến nhiều nước bắt đầu chủ trương chính sách “nội địa hóa” lực lượng lao động. Malaysia đang thải hồi 100.000 lao động Indonesia khi thực hiện chính sách ưu tiên lao động trong nước. Tại Anh, nhiều cuộc biểu tình đã và đang tiếp tục xảy ra khi công nhân nội địa phản đối thuê nguồn lao động nước ngoài. Hạ tuần tháng 1-2009, nhiều liên đoàn lao động Anh đã biểu tình phản đối quyết định ban giám đốc một nhà máy dầu của Pháp ở đông bắc Anh thuê 300 lao động Ý và Bồ Đào Nha thay vì công nhân Anh.

Tình hình tương tự diễn ra ở Ireland, khi công nhân nước này yêu cầu ngành xây dựng trong nước phải thuê người lao động nội địa hơn là nước ngoài (khoảng 300.000 lao động Ba Lan làm việc trong ngành xây dựng Ireland từ khi Ba Lan gia nhập EU năm 2004).

Tình hình đặc biệt nghiêm trọng tại khu vực vùng Vịnh (Abu Dhabi, Bahrain, Kuwait, Qatar, Saudi Arabia và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất), nơi sử dụng 13 triệu lao động nước ngoài, trong đó 11 triệu từ châu Á. Ấn Độ là nước thiệt hại nặng nhất khi có đến 5 triệu lao động tại sáu nước vùng Vịnh, gửi về hơn 1/5 tổng kiều hối của nước này. Thiếu đòn bẩy kiều hối, kinh tế Ấn Độ chắc chắn bị đình trệ (đầu tháng 3-2008, lãnh sự quán Ấn tại Dubai cho biết các công ty xây dựng đang chuẩn bị chở 20.000-30.000 công nhân Ấn về nước để “nghỉ phép dài hạn”). Nhiều nhà máy ở vùng Vịnh đóng cửa, hàng loạt công trình xây dựng bị ngưng trệ và như vậy chẳng ai cần lao động nước ngoài nữa.

Arabian Business (8-3-2009) cho biết Pakistan, với 24% kiều hối từ Mỹ và 56% từ vùng Vịnh là nước châu Á thứ hai bị ảnh hưởng từ cú sốc mất việc toàn cầu. Tương tự, kiều hối từ lực lượng lao động Indonesia, những người vốn lệ thuộc vào nền kinh tế sản xuất-xuất khẩu của Malaysia và Singapore, có thể bị giảm còn khoảng 3 tỉ USD trong năm 2009 – theo Fauzi Ichsan, nhà kinh tế thuộc Ngân hàng Standard Chartered.

Không chỉ vùng Vịnh, nguồn LĐHT tại Đông Nam Á cũng thiệt hại nặng nề (30% lực lượng lao động Singapore là người nước ngoài trong khi thành phần trên tại Malaysia là 1/5 – Asia Times 28-2-2009).

Năm 2007, Chương trình phát triển LHQ (UNDP) cho biết 90% lực lượng lao động hải ngoại (1,6 triệu người) của Myanmar đều làm việc tại Đông Nam Á, chủ yếu ở Thái Lan (mang lại 11 tỉ USD cho kinh tế nước này, theo Tổ chức Di trú quốc tế, trong Báo cáo tình hình Đông và Đông Nam Á 2008).

M.KIM

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: