Ngành chăn nuôi: vai trò tăng, bảo hộ thực tế âm

SGTT – Vai trò của nhóm ngành chăn nuôi được đo bằng chỉ số lan toả và độ nhạy của nó đối với toàn bộ nền kinh tế. Chỉ số lan toả dùng để đo mức độ quan trọng tương đối của một ngành với tư cách là bên sử dụng các sản phẩm vật chất và dịch vụ làm đầu vào từ toàn bộ hệ thống sản xuất. Ngành nào có chỉ số lan toả lớn hơn 1 sẽ có ảnh hưởng kích thích toàn bộ hệ thống kinh tế tốt nhất.

nganhchannuoi

Độ nhạy hàm ý mức độ quan trọng của một ngành như là nguồn cung sản phẩm vật chất và dịch vụ cho toàn bộ hệ thống sản xuất, ngành nào có độ nhạy lớn hơn 1 sẽ có ảnh hưởng kích thích hệ thống kinh tế tốt nhất.

Khi một ngành có chỉ số lan toả cao phát triển thì không chỉ có lợi cho bản thân ngành đó mà còn có tác dụng kích thích toàn bộ nền kinh tế; cụ thể hơn, khi sản phẩm của những ngành có chỉ số lan toả cao được tiêu thụ (kích cầu đúng nghĩa của nó) sẽ kích thích mạnh nền kinh tế.

Thông qua cấu trúc chi phí của những năm gần đây, có thể thấy chỉ số lan toả của nhóm ngành chăn nuôi rất cao, đặc biệt là heo (gần 1,8) và gia cầm (1,6) và hệ số này cao hơn mức bình quân chung của nền kinh tế từ những năm 2000. Như vậy có thể thấy từ những năm 2000 nhóm ngành này đã rất quan trọng trong nền kinh tế, đến những năm gần đây tầm quan trọng của nhóm ngành này thậm chí còn được nâng lên rõ rệt, và có thể nhận định rằng đã có sự thay đổi cấu trúc chi phí một cách rất rõ rệt trong nhóm ngành này nhưng tỷ trọng của nhóm ngành này trong cơ cấu GDP không tăng lên mà thậm chí còn giảm đi (xem bảng 1 ở dưới)

 baoho01

Về tỷ lệ bảo hộ thực tế: Ngày 11.1.2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Đó là một thành công quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế đối ngoại của Việt nam. Tuy nhiên, vào WTO cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam phải thực hiện các cam kết hội nhập. Theo đó thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm 23% so với mức hiện hành. Thuế suất ở đây được hiểu là mức bảo hộ danh nghĩa đối với hàng hoá Việt nam. Những nghiên cứu sâu hơn về hàng rào bảo hộ thương mại của Việt nam dưới tác động của các cam kết hội nhập kinh tế vào thời điểm hiện nay là rất cần thiết. Hơn nữa, thuế suất trung bình cũng chưa phải là chỉ số hữu hiệu để đánh giá về hàng rào bảo hộ thương mại. Tỷ lệ bảo hộ thực tế sẽ là chỉ số tốt hơn để đánh giá về vấn đề này. Nó cho ta biết dưới tác động của hàng rào bảo hộ thương mại, giá trị gia tăng của sản xuất trong nước sẽ tăng lên bao nhiêu phần trăm so với trường hợp không có. Như vậy tỷ lệ bảo hộ thực tế ở đây được hiểu là thực tế sản xuất trong nước được bảo hộ thế nào.

Tỷ lệ bảo hộ thực tế được áp dụng ở rất nhiều nước, đặc biệt là tại các nước đang phát triển và là khái niệm được sử dụng nhiều nhất trong đánh giá các động lực khuyến khích khả năng cạnh tranh (xin xem Greenaway & Milner, 2003). Vì vậy, ngoài việc đánh giá khả năng cạnh tranh của từng nước, tỷ lệ bảo hộ thực tế còn là một chỉ số rất có ý nghĩa khi so sánh hàng rào bảo hộ thương mại giữa các nước.

Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về tỷ lệ bảo hộ thực tế; nghiên cứu sớm nhất là của trung tâm Kinh tế quốc tế Úc (Centre for International Economics, 1998), tiếp theo là một nghiên cứu của viện Kinh tế (Institute of Economics, 2001), rồi nghiên cứu của ADB phối hợp với bộ Tài chính Việt Nam (Athukorala, 2006), của Bùi Trinh (2005) và của TS Phạm Văn Hà (2007).

Trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến tỷ lệ bảo hộ thực tế của nhóm ngành chăn nuôi, tính toán dựa trên cấu trúc kinh tế của các ngành này những năm gần đây và biểu thuế suất 2007. Qua tính toán có thể nhận thấy tuy nhóm ngành chăn nuôi có hệ số lan toả và độ nhạy cao nhưng hầu như không được bảo hộ thực tế, do nhóm ngành này đã có nhiều tiến bộ trong thay đổi quy trình công nghệ và cấu trúc chi phí, nhưng tỷ lệ giá trị tăng thêm của nhóm ngành này lại thấp đi so với tỷ lệ chung của nước ngoài do chịu ảnh hưởng của thuế suất của các chi phí đầu vào. Điều này thể hiện qua tỷ lệ bảo hộ thực tế âm (xem bảng 2 ở dưới).

baoho02 

Nếu tình hình này không được khắc phục sẽ dẫn tới người (cơ sở) chăn nuôi trong nước hạn chế sản xuất. Điều gì sẽ xảy ra?

Một là, người chăn nuôi sẽ chậm thu hồi vốn do đã đầu tư vào qui trình, công trình mới, do thay đổi “cung cách” chăn nuôi để giảm chi phí (chăn nuôi tập trung và chăn nuôi phân tán);

Hai là, trong thời gian qua các ngành công nghiệp chế biến từ sản phẩm chăn nuôi đã đầu tư công nghệ mới, hướng tới công nghệ “sạch” dùng cho xuất khẩu sẽ không có nguyên liệu để sản xuất, để sử dụng công nghệ chế biến có hiệu quả. Trước mắt, để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra, các ngành này phải nhập khẩu nguyên vật liệu là sản phẩm chăn nuôi để sản xuất, dẫn tới nhập siêu cao hơn, đi đôi với việc không tăng thêm công ăn việc làm trong nước. Đã có dấu hiệu về vấn đề này: nếu như tăng trưởng giá trị sản xuất của chăn nuôi năm 2005 so với 2004 là 11,4%, thì năm 2006 là 6,9%, năm 2007 là 4,6% và sơ bộ năm 2008 là 6,0%. Nguyên nhân là giá nhập khẩu hàng thô hoặc mới sơ chế (tính theo triệu USD) của nhóm “dầu, mỡ, chất béo, sáp động, thực vật” năm 2005 so với năm 2004 là -15,8%, nhưng năm 2006 so với năm 2005 là +34,7% và năm 2007 là +86,4%.

Đã có ý kiến cho rằng các ngành sản xuất chế biến thực phẩm (bao gồm cả chế biến, bảo quản thịt, các sản phẩm từ thịt, thuỷ sản, các sản phẩm từ thuỷ sản; rau quả; dầu, mỡ động thực vật; sữa và các sản phẩm từ sữa….) trong một vài năm không xa sẽ thiếu nguyên liệu từ trong nước để sản xuất. Nếu không sản xuất, các ngành này sẽ lãng phí tiền của do đầu tư vào quy trình công nghệ mới hoặc thay vào đó phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này; trong đó có vấn đề cơ chế, chính sách bảo hộ cho chăn nuôi trong nước.

Bùi Trinh – Bùi Bá Cường

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: