Ngành điện: Não trạng vẫn theo lối mòn

Oxford Analytica, một công ty tư vấn chiến lược độc lập với mạng lưới khoảng hơn 1000 học giả, chuyên gia tại Oxford và các trường ĐH, viện nghiên cứu hàng đầu thế giới vừa có phân tích về ngành điện lực Việt Nam và những nỗ lực cải cách quản lý đăng trên Forbes. Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu.

Nhiều năm qua, vấn đề đầu tư cho ngành điện lực Việt Nam, vốn đặc biệt cần thiết, đã là vấn đề tranh cãi dai dẳng giữa các nhà kỹ trị theo hướng thị trường trong chính phủ với các quan chức của công ty điện lực quốc gia (EVN) được đào tạo tại Liên Xô. Các quyết định về giá điện đưa ra năm ngoái có thể dẫn tới một bước đột phá – nhất là khi tình trạng thiếu điện đã trở thành vấn đề nhức nhối.

Mỗi năm khi mùa khô tới, các doanh nghiệp và người dân lại phải chịu cảnh bị cắt điện. Năm 2010 là năm tồi tệ nhất. Mới chỉ một năm kể từ khi nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu – với việc sản xuất bùng nổ mạnh – nhưng hạn hán lại xảy ra trên toàn Đông Nam Á, làm giảm đáng kể sản lượng điện của các nhà máy thủy điện. Khi báo chí đưa tin mất điện kéo dài và trên diện rộng, dư luận bắt đầu tranh cãi về việc vấn đề này không phải do thời tiết không thuận lợi, mà do cách quản lý chưa tốt.

Cải cách chậm chạp

Quá trình chuyển đổi chậm chạp từ các doanh nghiệp nhà nước sang các thể chế thị trường, thoát khỏi định hướng chính trị, đã khiến nền kinh tế phải trả giá đắt. Điều này đặc biệt đúng trong ngành điện lực.

Từ năm 2000, cuộc cải cách ngành điện đã được coi là một ưu tiên. Việt Nam có đủ các văn bản pháp lý nền tảng, cũng như các cố vấn và hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới (WB) kêu gọi chú trọng vấn đề này. Chính sách quốc gia khẳng định việc phát điện, truyền tải và phân phối điện sẽ không bị “bó hẹp” và toàn bộ ngành này sẽ được mở ra cho cạnh tranh dần dần theo từng bước cho tới năm 2020.

Quá trình chuyển đổi chậm chạp từ các doanh nghiệp nhà nước sang các thể chế thị trường, thoát khỏi định hướng chính trị, đã khiến nền kinh tế phải trả giá đắt. Điều này đặc biệt đúng trong ngành điện lực.

Nhưng cho tới gần đây, các cuộc cải cách dường như không có tiến triển nhiều. Các doanh nghiệp nhà nước vẫn do những người từng theo học tại Liên Xô điều hành và quen với việc quản lý ngành điện như một ngành công nghiệp bình thường. Các kế hoạch 5 năm đã được thay thế bằng các chiến lược và tầm nhìn, nhưng lời nói và hành động của EVN và Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) vẫn theo cách cũ.

Thế hệ được đào tạo tại Liên Xô sẽ cầm lái một thập kỷ khác – một giai đoạn quan trọng để đảm bảo rằng tình trạng thiếu điện không trở thành một vật cản đối với tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Thách thức về giá

Vấn đề cốt lõi là bảng giá của ngành điện quá thấp khiến cho việc đầu tư mới trở nên không có hiệu quả kinh tế. Giải pháp kĩ thuật đã được chứng minh từ lâu rằng sẽ giúp cho việc giữ đúng giá.

Năm 2005, Bộ Công nghiệp Việt Nam (nay là Bộ Công thương) tuyên bố 15 dự án của các nhà sản xuất điện độc lập IPP để ngỏ cho đầu tư nước ngoài. Mục tiêu của việc này là gia tăng thị phần ngành điện của những nhà sản xuất điện độc lập từ 14% năm 2005 lên 33% vào năm 2010. Thế nhưng sau 4 năm, lĩnh vực này không thể đi vào hoạt động bởi không thể đạt được thống nhất trong việc định giá chi phí sản xuất điện.

Các nhà sản xuất độc lập lũ lượt kéo tới Hà Nội để rồi phải chờ đợi hoặc mất đi mối quan tâm. Mục tiêu đầu tư 4 tỷ USD mỗi năm đến nay không hề nhìn thấy một tín hiệu nào của việc có thể hiện thực hóa.

Giải pháp

Cuối năm ngoái, một giải pháp đã lộ diện. Sau một thời gian dài tranh cãi, ngày 27/10/2009, Chính phủ đã ban hành nghị định xây dựng tiêu chí đồng bộ cho các dự án BOT. Vài tuần sau đó, EVN và Vinacomin, cùng Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), thông báo với chính phủ rằng họ đã sẵn sàng để chính phủ làm trung gian cho một cấu trúc giá chấp nhận được đối với điện sản xuất từ than. Điều này cuối cùng dẫn tới một thỏa thuận nhà nước theo đó họ có thể tăng giá điện dần dần.

Ít lâu sau đó, ngày 22/4/2010, EVN và công ty điện lực AES của Mỹ đã đạt thỏa thuận về giá bán điện từ nhà máy điện công suất 1.200 MW, trị giá 1,6 tỷ USD, mà AES sẽ xây dựng ngay cạnh một mỏ than của Vinacomin. Nhiều nhà máy nhiệt điện với tổng công suất hơn 12.000 MW cũng đã được lên kế hoạch xây dựng vào năm tới.

Tốc độ các công ty đạt được thỏa thuận từ khi các quy định mới về BOT có hiệu lực từ tháng 1/2010 cho thấy Việt Nam có thể giải quyết được các vấn đề về nguồn cung điện về trung hạn. Tuy nhiên, các cuộc cải cách về quản lý sẽ cần được tiếp tục để đảm bảo một sự phát triển lành mạnh cho ngành này.

Quốc Thái biên dịch

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: