Nỗ lực vô vọng của nhà truyền giáo xứ Phù Tang

Giáo sư Kenichi Ohno, cùng các cộng sự của mình, ngay từ ngày đầu đã có tham vọng tác động thẳng vào giới lãnh đạo cấp trung ương, nhằm hình thành một chiến lược công nghiệp hỗ trợ trong mối quan hệ đối tác chiến lược về công nghiệp.

Theo thành viên Tổ Tư vấn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Vũ Quốc Tuấn, người đầu tiên nói về khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” với người lãnh đạo cao nhất của chính phủ là Giáo sư Trần Văn Thọ – một trong ba thành viên Việt Kiều của tổ tư vấn. Tuy nhiên, người có công truyền bá ý tưởng đó suốt 15 năm ở Việt Nam là Giáo sư Kenichi Ohno, hiện là Giám đốc Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) – một dự án giữa Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản (GRISP) và Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.

Sự thừa nhận cay đắng

Có hai chuyên gia tư vấn nước ngoài gây được sự chú ý ở Việt Nam, nhất là từ giới truyền thông. Đó là Giáo sư David Dapice cùng nhóm Harvard, và Giáo sư Kenichi Ohno.

Nhóm của Giáo sư Dapice đã chọn cách tư vấn ở cấp chính quyền địa phương, ở những nơi những người lãnh đạo mong muốn có sự thay đổi. Họ cố gắng đạt những thành công cụ thể, để thu hút sự chú ý từ cấp cao hơn.

Trong khi đó, Giáo sư Ohno, cùng các cộng sự của mình, ngay từ ngày đầu đã có tham vọng tác động thẳng vào giới lãnh đạo cấp trung ương, nhằm hình thành một chiến lược công nghiệp hỗ trợ trong mối quan hệ đối tác chiến lược về công nghiệp.

Sau một thập kỷ rưỡi kiên trì đi theo hướng này, Giáo sư Ohno đã phải thừa nhận rằng dường như đồng nghiệp người Mỹ của ông đã đi đúng hướng. Đầu năm 2008, lãnh đạo chính phủ Việt Nam, trong sự tìm kiếm nhóm giải pháp chống lạm phát, đã trực tiếp lắng nghe những phân tích, và, phần nào đó, tiếp thu những khuyến nghị của nhóm này.

Còn người cao nhất trong hệ thống hành pháp của Việt Nam, cho đến nay, Giáo sư Ohno được gặp trực tiếp chỉ là một vị thứ trưởng phụ trách lĩnh vực công nghiệp. Và, gần đây, Giáo sư Ohno đã nói rằng mối quan tâm của ông về phát triển công nghiệp hỗ trợ đã chuyển sang Ethiopia – một đất nước đi sau Việt Nam 20 năm, nếu tính về GDP trên đầu người, nhưng lại đi trước Việt Nam trong tư duy hoạch định chính sách công nghiệp, trong đó có công nghiệp hỗ trợ.

Cách tiếp cận kiểu hàn lâm

Giáo sư Yoshiharu Tsuboi, giảng dạy môn chính trị học của Đại học Waseda và là người đồng chủ trì hội thảo “Chính sách công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ – kinh nghiệm của Nhật Bản và những vấn đề của Việt Nam”, khi được hỏi rằng cơ sở nào ông để tự tin khi bắt tay vào việc thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, khi mà sau 15 năm kiên trì truyền bá ý tưởng này, Giáo sư Ohno đã cảm thấy mệt mỏi, đã nói: “GS Ohno là một nhà kinh tế lý thuyết. Ông muốn áp dụng lý thuyết của ông ở Việt Nam. Còn tôi chọn cách tiếp cận khác.”

Quả vậy, vị giáo sư đã lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Stanford (Mỹ) về tài chính quốc tế và kinh tế phát triển này đã mang tới Việt Nam một hệ thống kiến thức lớn và bài bản về ngành công nghiệp hỗ trợ ở Nhật Bản, và kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc phát triển nó ở Thái Lan, Malaysia, và thậm chí Đài Loan.

Trình độ công nghiệp hỗ trợ trong ngành cơ khí của Việt Nam mới dừng ở việc sản xuất phụ tùng xe máy. CN hỗ trợ cho ngành ô tô coi như phá sản.

Ông đã đưa ra mô hình sản xuất với tên gọi là tích hợp của Nhật Bản, khi các nhà lắp ráp và nhà cung cấp linh kiện sẽ cùng nghiên cứu và phát triển cùng nhau, để đạt tới mục tiêu là sản phẩm luôn được nâng cao về chất lượng. Trong đó, Việt Nam là đối tác mà Nhật Bản muốn chọn. Cũng như Mỹ đã chọn Trung Quốc trong mô hình chế tạo kiểu modul, khi cho ra các sản phẩm được sản xuất hàng loạt. Trong đó, Mỹ lo phần thiết kế và phân phối, còn các nhà sản xuất linh kiện của Trung Quốc sẽ cạnh tranh nhau để làm sao cung cấp với giá thành rẻ nhất, với chất lượng vừa phải.

Tuy nhiên, ý tưởng này không gặp được sự hưởng ứng từ phía Việt Nam – một quốc gia với trình độ phát triển công nghiệp còn kém xa Trung Quốc, và vẫn có xu hướng học theo những gì mà Trung Quốc đã thành công. Đó là chưa kể, suốt thời gian đó nền công nghiệp của Việt Nam vẫn phát triển dựa trên khai thác tài nguyên và lao động gia công giá rẻ, chứ các nhà quản lý công nghiệp chưa mấy chú ý đến hàm lượng giá trị gia tăng mà công nghiệp hỗ trợ có thể mang lại.

“Mặc dù rất mong muốn thu hút các nhà lắp ráp nước ngoài vào Việt Nam, các nhà quản lý công nghiệp vẫn không hình dung một cách rõ ràng rằng, đối với ngành lắp ráp, chi phí linh phụ kiện chiếm tới 70-90% giá thành, còn nhân công lao động chỉ chiếm dưới 10%”, Giáo sư Ohno có lúc đã thốt lên trong thất vọng.

Ông còn đi xa hơn nữa trong luận thuyết của mình, khi cảnh báo Việt Nam về nguy cơ của “bẫy thu nhập trung bình”, nếu không phát triển công nghiệp hỗ trợ, ngay từ khi Việt Nam còn chưa bước qua được ngưỡng “nghèo”, tức là GDP bình quân đầu người hàng năm chưa đạt tới ngưỡng 1000 USD.

“Điều này quá xa vời với Việt Nam. Đó là câu chuyện của 15 năm nữa, chứ bây giờ Việt Nam có muốn sa vào bẫy cũng khó”, Viện trưởng Phan Đăng Tuất nhận xét, khi nói rằng mức thu nhập trung bình của thế giới phải gấp năm – bảy lần như vậy.

Tầm quan trọng của việc phát triển công nghiệp hỗ trợ trong quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật Bản mà Giáo sư Ohno luôn nhấn mạnh, cũng đã gây không ít hoài nghi rằng việc phát triển công nghiệp hỗ trợ là phục vụ cho các nhà lắp ráp Nhật Bản, chứ không phải cho sự nghiệp công nghiệp hóa của Việt Nam. Và ông đã không ít lần phải than thở với giới truyền thông rằng dường như việc thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ là việc của phía Nhật Bản, chứ không phải của các nhà hoạch định chính sách công nghiệp của Việt Nam. “Họ cứ bình chân như vại”, Giáo sư Ohno nhận xét.

Nhưng, cách tiếp cận bài bản theo kiểu Nhật của ông dường như đã tỏ ra xa xỉ với thực tế hoạch định chính sách mang tính chắp vá ở Việt Nam. Các nhà hoạch định chính sách công nghiệp Việt Nam, ở cấp chuyên gia, như viện của ông Phan Đăng Tuất, cũng gặp những khó khăn như người đồng nghiệp đến từ Nhật Bản, có khi còn gấp bội.

Tệ hơn nữa, như đã đề cập ở bài viết trước, họ phải đôn đáo đi tìm nguồn tài trợ bên ngoài để làm những việc mà một người Nhật như ông khó hình dung được. Và tệ nhất là, trong khi họ chờ đợi Kế hoạch hành động về phát triển công nghiệp hỗ trợ được thông qua, thì Qui hoạch tổng thể, thông qua cách đây ba năm, đã trở nên lỗi thời, và họ lại phải bắt tay vào làm lại.

Lời bà Trương Chí Bình, Giám đốc Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phàn nàn về việc phía Nhật Bản từ chối giúp đỡ cho phía Việt Nam, dường như cũng xuất phát từ chỗ các chuyên gia soạn thảo chính sách công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam coi những người “đồng chí hướng” từ Nhật Bản là “tia sáng cuối đường hầm”, sau khi gặp phải sự ghẻ lạnh từ phía các cơ quan Việt Nam được chính phủ giao phối hợp với Bộ Công Thương trong việc này.

Chính Giáo sư Ohno cũng phần nào hiểu được câu chuyện này, khi ông đã nhận xét rằng vai trò điều phối của Bộ Công Thương quá yếu trong cái cơ chế hoạch định chính sách quá đặc thù ở Việt Nam. Bất cứ bộ nào có ý kiến trái ngược, coi như đề án bị đình lại vô thời hạn.

Có lẽ, với sự cương quyết, được coi là khá cứng nhắc của phía Nhật, trong đó có Giáo sư Ohno, cũng là một sự cảnh báo về tính hiệu quả của cách làm chính sách không giống ai ở Việt Nam, cũng như tiền đồ của sự hợp tác sắp tới trong lĩnh vực này của phía Việt Nam với phía Nhật Bản, thông qua METI (Bộ Kinh tế – Thương mại – Công Nghiệp Nhật Bản) – cơ quan chính phủ có đầy đủ quyền hành trong việc hoạch định và triển khai các chính sách công nghiệp.

Bà Bình cũng không phải là hoàn toàn không có lý khi nhận xét rằng các cuộc hội thảo mà VDF kết hợp với Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đứng ra tổ chức là “ném đá ao bèo”. Ở Việt Nam VCCI không phải là một tổ chức có tiếng nói có thể “vọng lên trên” như Keidanren ở Nhật Bản. Và VCCI, theo xu hướng chung ở Việt Nam, cũng chưa thể hiện sự quan tâm đầy đủ đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ – những người chơi chính trong cuộc chơi “công nghiệp hỗ trợ”.

Cũng còn may là trước khi kết thúc chặng đua đầy mệt mỏi này, Giáo sư Ohno đã kịp trao “khúc gậy tiếp sức” cho Đại sứ Mitsuo Sakaba. Trong vòng một năm rưỡi qua, với ưu thế của người đại diện cao nhất của Chính phủ Nhật Bản tại Việt Nam, ông Sakaba đã có những cuộc tiếp xúc, trao đổi với những người có trách nhiệm trong chính phủ. Nhất là các phó thủ tướng, như Hoàng Trung Hải, hay Nguyễn Thiện Nhân, – những người mà Giáo sư Ohno khó lòng có thể xin gặp trực tiếp để trình bày vấn đề.

Câu chuyện dường như đã có những tiến triển, dù không nhiều. (Chí ít, một nghị định về ưu đãi phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ được ban hành nội trong năm nay.) Trước khi, “khúc gậy tiếp sức” được trao tiếp cho những người khác.

Có một điều đáng tiếc là dường như khi gặp phải những trở ngại quá to lớn từ một phía khác trên bước đường thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, những người đồng hành, dù cách tiếp cận có khác nhau, đã nảy sinh những bất đồng, và không tránh khỏi những lúc điều qua tiếng lại. Người viết bài này, trong thâm tâm, vẫn tin rằng việc đôi lúc “tự làm khổ nhau” của những người đồng chí hướng, như Giáo sư Ohno và Viện trưởng Phan Đăng Tuất, đều nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ.

Mong rằng những người cầm tiếp khúc gậy tiếp sức, như nguyên Bộ trưởng Trương Đình Tuyển và Giáo sư Tsuboi, sẽ tránh được câu chuyện đáng buồn này.

Tác giả: Huỳnh Phan, http://www.tuanvietnam.net

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: